Từ dự báo đến phòng chống thiên tai - Kỳ 1: Dự báo chưa chuyên

TT - Sau mỗi lần thiên tai gây thiệt hại lớn, không ít vấn đề về chất lượng dự báo khí tượng thủy văn lại được đặt ra, thậm chí gây ra những tranh cãi dữ dội giữa các cơ quan chức năng.

Trong khi đó, từ dự báo đến phòng chống lại là một câu chuyện gian nan khi trên quyết liệt, dưới có nơi còn thờ ơ. Việc phòng chống cần nâng chất cả người lẫn công nghệ.

Tháng 5-2006, người dân và các cơ quan chức năng thở phào khi siêu bão Chanchu không ảnh hưởng vào bờ, nhưng ngay sau đó lại bàng hoàng nhận hung tin hơn 260 ngư dân miền Trung bị chết, mất tích ở đông bắc biển Đông.

Việc dự báo bó hẹp trong vòng 24 giờ đã chậm hơn so với diễn biến của bão và dự báo sai hướng di chuyển của bão cộng với việc các cơ quan quản lý tàu thuyền, phòng chống bão chỉ tập trung chống bão trong bờ đã phải trả giá đắt bằng hàng trăm sinh mạng ngư dân.

 

Chuẩn bị đo mực nước ở trạm thủy văn Lào Cai - Ảnh: TUẤN PHÙNG

Dự báo: mỗi đài một phách

Tiếp đó trong năm 2008, công tác dự báo vẫn tiếp tục có những sai sót, chậm trễ trong dự báo bão số 7, số 10 và trận mưa lũ lịch sử vào cuối tháng 10, đầu tháng 11 tại Hà Nội gây bức xúc trong dư luận. Gần đây nhất, trong cơn bão số 9 đổ bộ vào các tỉnh miền Trung ngày 29-9, lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi cho rằng dự báo sai nên tỉnh này bị thiệt hại nặng.

Không chỉ riêng cơ quan dự báo khí tượng thủy văn của VN dự báo sai mà ngay cả các cơ quan dự báo khí tượng thủy văn quốc tế cũng nhiều phen lúng túng với những hiện tượng thời tiết bất thường. Đầu tháng 10 vừa qua, cơn bão Parma (bão số 10) xuất hiện và tồn tại đến nửa tháng trên biển Đông với hướng di chuyển liên tục thay đổi, cường độ lúc mạnh lúc yếu đã làm các cơ quan dự báo mệt nhoài.

Khi bão sắp vào đảo Luzon (Philippines), các đài khí tượng đã có những dự báo rất khác nhau về đường đi của bão. Khi bão vào đảo Hải Nam, Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn trung ương nhận định bão duy trì với sức gió cấp 8, nhưng cơ quan khí tượng Nhật Bản cho rằng bão đã suy yếu thành áp thấp nhiệt đới. Tuy nhiên, từ trưa 13-10 bão số 10 gió đã mạnh lên cấp 11, giật cấp 12-13 khi cách bờ biển các tỉnh Bắc bộ hơn 100km.

Có một nghịch lý là ngành khí tượng thủy văn đang rất cần hệ thống siêu máy tính (super computer) cho việc dự báo, nhưng nếu được trang bị trong thời điểm này cũng chưa có cơ sở hạ tầng để lắp đặt và thiếu cả người điều khiển, sử dụng.

GS.TS Đinh Văn Ưu - chủ nhiệm bộ môn hải dương học khoa khí tượng thủy văn và hải dương học Trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội - nói: “Chúng ta đã không đầu tư đúng mức cho ngành khí tượng biển trong khi hầu hết các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa, bão, lũ... đều có nguồn gốc và chịu ảnh hưởng của biển”.

Theo GS Ưu, xu thế phát triển ngành dự báo hiện đại là phải cập nhật thường xuyên thông tin các trường không gian (mặt rộng, các tầng cao trong khí quyển và các tầng sâu biển) để có thể đưa ra kết quả dự báo chính xác.

Trong việc dự báo cơn bão số 10, lãnh đạo Trung tâm Khí tượng thủy văn trung ương thừa nhận đã dự báo cường độ bão khi vào vịnh Bắc bộ thấp hơn so với thực tế. Tại đảo Bạch Long Vĩ, dự báo gió cấp 12 nhưng bão gây gió giật cấp 14. Còn trong đất liền dự báo gió cấp 8-9 nhưng thực tế là cấp 7.

Thiết bị: thiếu và yếu

Thật ra từ sau cơn bão Chanchu, công tác dự báo khí tượng thủy văn đã có những thay đổi. Cuối tháng 6-2006, lần đầu tiên Việt Nam áp dụng quy chế dự báo bão trước 48 tiếng, đồng thời sự đầu tư phương tiện kỹ thuật cho công tác dự báo được tăng lên.

Theo ông Trần Văn Sáp - phó tổng giám đốc Trung tâm Khí tượng thủy văn quốc gia, từ sau bão Chanchu đến nay việc đầu tư cho ngành khí tượng thủy văn chiếm phần lớn trong vốn xây dựng cơ bản hằng năm của Bộ Tài nguyên - môi trường.

Ông Trần Văn Sáp cho biết tại các nước tiên tiến, các trạm quan trắc khí tượng thủy văn đều tự động (tự đo và truyền số liệu về trung tâm dự báo), bố trí cách nhau theo lưới vuông 17km/trạm. Các trạm này rất quan trọng trong việc truyền thông số, dữ kiện về thời tiết phục vụ công tác dự báo.

Tuy nhiên, Việt Nam đang có những khu vực cách hàng trăm kilômet mới có một trạm, trung bình 70-80km/trạm. Mạng lưới trạm thưa khiến việc dự báo cực ngắn theo cách xác định mức độ mưa mỗi khi có mây là không thể. Phần lớn trạm không tự động đo và truyền tải số liệu cũng khiến việc tiếp nhận thông tin của cơ quan dự báo chậm và thiếu so với thực tế, làm chất lượng bản tin dự báo chưa cao.

Vì mạng lưới trạm quan trắc thưa nên trong trận lũ quét làm hơn 30 người chết ở miền núi phía Bắc đầu tháng 7-2009, ngành khí tượng thủy văn hoàn toàn không có số liệu nào về lượng mưa tại khu vực bị thiệt hại nặng nhất của huyện Pắc Nặm (Bắc Kạn).

 

Quan trắc ở trạm khí tượng Nam Định - Ảnh: Tuấn Phùng

Hiện nay, Trung tâm Khí tượng thủy văn quốc gia đang sử dụng sáu trạm rađa thời tiết ở Việt Trì (Phú Thọ), Phủ Liễn (Hải Phòng), Vinh (Nghệ An), Tam Kỳ (Quảng Nam), Nha Trang (Khánh Hòa), TP.HCM. Đây là phương tiện quan trọng hàng đầu phục vụ dự báo. Tuy nhiên 4/6 rađa đã quá cũ, trong đó ba rađa thời tiết TRS-2730 do Pháp chế tạo đến nay nhà cung cấp không còn sản xuất. Trong cơn bão số 6 (năm 2008), khi bão vào tới gần bờ thì rađa Phủ Liễn bị sự cố khiến thông tin phục vụ dự báo bị gián đoạn.

Trong trận mưa ngập lịch sử ở Hà Nội năm 2008, dù các trạm rađa quan trắc liên tục nhưng do tín hiệu rađa Phủ Liễn không ổn định nên cho kết quả không cao. Đặc biệt, cơn bão số 9 vừa qua tràn vào đúng thời điểm rađa Tam Kỳ đang tháo ra trong quá trình sửa chữa nâng cấp (do chuyên gia Mỹ thực hiện) nên đường truyền số liệu quan trắc từ rađa không thể truyền tự động về Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn trung ương mà chỉ truyền bằng điện thoại từ nhân viên quan trắc.

TUẤN PHÙNG - XUÂN LONG