Tài sản không có di chúc được chia thế nào?

TTO - * Ông bà nội tôi sinh được 3 người con, 1 trai (là bố tôi) và 2 con gái. Ông bà nội tôi đã mất năm 2000 và không để lại di chúc hay một giấy tờ nào về chuyện chia tài sản. Năm 2003 bố tôi mất (cũng không có di chúc hay giấy tờ nào tương tự).

Từ đó đến nay tôi và mẹ tôi (ở tại gia đình) thờ phụng ông bà tổ tiên, nhưng hiện cô tôi đòi phải chia số đất ông bà tôi để lại.

Số tài sản ông bà tôi để lại là đất nông nghiệp, chưa có sổ đỏ, nhưng hằng năm gia đình tôi vẫn đóng thuế đất. Hiện các cô tôi đã có gia đình và cuộc sống ổn định bên nhà chồng, mẹ tôi không có công ăn việc làm gì và tôi đang học đại học.

Từ trước đến nay các công việc tang lễ, mồ mả đều do bố tôi và mẹ tôi thu xếp cho ông bà, nay cô tôi đòi kiện chia tài sản thì có đúng pháp luật không? Nếu phải chia thì gia đình tôi (mẹ tôi và tôi) được hưởng thế nào? Xin cảm ơn.

Nguyen Duc Truong

- Luật sư Nguyễn Văn Hậu trả lời:

Theo quy định của Bộ luật dân sự về thừa kế thì thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Do đó, trong vòng 10 năm kể từ ngày ông bà nội bạn mất, các cô của bạn có quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án có thẩm quyền phân chia di sản của ông bà nội bạn để lại.

Để xác định quyền sử dụng đất trên có phải là di sản của ông bà nội bạn để lại hay không thì bạn có thể tham khảo quy định tại mục 1 phần II nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004 của hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình. Cụ thể:

“1.1. Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003 thì quyền sử dụng đất đó là di sản.

1.2. Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 điều 50 của Luật đất đai năm 2003, thì kể từ ngày 1-7-2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế.

1.3. Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 này nhưng có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ôtô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, các công trình xây dựng trên đất được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh như nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác) gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà có yêu cầu chia di sản thừa kế, thì cần phân biệt các trường hợp sau:

a. Trong trường hợp đương sự có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tòa án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất đó.

b. Trong trường hợp đương sự không có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng có văn bản của UBND cấp có thẩm quyền cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét để giao quyền sử dụng đất, thì tòa án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Đồng thời phải xác định ranh giới, tạm giao quyền sử dụng đất đó cho đương sự để UBND cấp có thẩm quyền tiến hành các thủ tục giao quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự theo quy định của pháp luật về đất đai.

c. Trong trường hợp UBND cấp có thẩm quyền có văn bản cho biết rõ việc sử dụng đất đó là không hợp pháp, di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất không được phép tồn tại trên đất đó, thì tòa án chỉ giải quyết tranh chấp về di sản là tài sản trên đất đó.

1.4. Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ quy định tại tiểu mục 1.1, tiểu mục 1.2 mục 1 này và cũng không có di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 này, nếu có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND theo quy định của pháp luật về đất đai”.

Như vậy, nếu đất của ông bà nội bạn để lại thỏa mãn một trong các điều kiện trên để có thể được coi là di sản thì các cô bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện ra tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất để yêu cầu tòa án phân chia di sản này.

Do ông bà nội bạn chết không để lại di chúc nên di sản của ông bà nội bạn để lại sẽ được chia đều cho những thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông bà nội bạn.

Theo quy định tại điều 767 Bộ luật dân sự, những người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.

Vì cha bạn chết vào năm 2003 nên đối với phần di sản được chia từ di sản của ông bà nội bạn để lại, phần di sản này sẽ trở thành di sản của cha bạn để lại và được chia đều cho những thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha bạn theo quy định tại điều 767 Bộ luật dân sự nêu trên.

Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU