Kỳ 2: LÁN “ĐẠI HỌC” GIỮA BÃI VÀNG
Trong bãi vàng, người ta đối xử với nhau bằng một thứ luật riêng - luật của những con thú. Nếu không trang bị cho mình bộ móng vuốt, răng nanh sắc nhọn hoặc chí ít là thứ chất độc chết người thì sớm muộn cũng trở thành con mồi. Nhiều bưởng đối xử với cửu (người đào vàng thuê) như nô lệ. Cửu bị đánh đập, bỏ đói, treo lên cây... vì mắc lỗi là chuyện thường. Những ngày ở Thái Nguyên, chúng tôi lại được nghe một câu chuyện khác hẳn. Rất nhân văn nhưng... chua xót.

Tiến sỹ Nguyễn Đức Hạnh
ÔNG THẠC SỸ NGẬM NGẢI TÌM VÀNG
Nhân vật chính trong câu chuyện ngược đời này là tiến sỹ văn học Nguyễn Đức Hạnh, hiện là Phó khoa Đào tạo, giảng viên môn Lý luận văn học của Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
Năm 1986, hàng loạt cơ quan, xí nghiệp điêu đứng vì thua lỗ. Hàng vạn người lao động bị mất việc làm vì giảm biên chế. Cơn bão giảm biên chế đã đẩy nhiều gia đình vào cảnh túng quẫn trong đó có gia đình thạc sỹ Nguyễn Đức Hạnh (năm 1986, anh Hạnh là thạc sỹ). Đồng lương giáo viên của anh không đủ nuôi người vợ và hai con nhỏ. Vợ anh, con gái một vị đại tá công an, hàng ngày phải gánh rau đi bán rong khắp phố. Khoản lãi sau một ngày giãi nắng trầy trật có khi chỉ là mấy mớ rau bán ế. Không chịu nổi cảnh vợ con nheo nhóc, đói khát, Nguyễn Đức Hạnh rủ mấy anh em trong gia đình vào bãi vàng thử vận may. Bãi Nhâu chỉ cách thành phố Thái Nguyên khoảng 30km nhưng đường vào vô cùng gian nan, là địa chỉ mà anh em Nguyễn Đức Hạnh chọn làm nơi đánh bạc với số phận.
Tìm một khoảng đất hiếm hoi còn trống bên sườn núi, mấy anh em chặt cây làm lán, tuyển cửu đào vàng. Mang tiếng là bưởng nhưng không một xu dính túi nên bưởng Hạnh cũng phải lăn ra đào đất, nghiền đá, nổ mìn như một cửu tầm thường nhất. Tiến sỹ Hạnh nhớ lại những ngày khủng khiếp ở Bãi Nhâu. Chuyện đâm chém, cướp bóc, hãm hiếp... diễn ra như cơm bữa. Nhiều bưởng phát điên vì tiếc của. Chuyện cướp ở bãi vàng cũng đặc biệt không giống bất cứ vụ cướp nào ở phố thị. Có băng cướp chỉ ăn và theo dõi các lán đào vàng. Thấy lán nào hối hả nghiền đá cả ngày lẫn đêm là biết ngay đã tìm được nẹp vàng. Vài tên cô hồn khệnh khạng đi đến nói với bưởng: “Bọn em vật quá, bưởng cho bọn em xin vài balô đá”. Không đợi trả lời, chúng vẫy mấy thằng đàn em lảng vảng quanh đó, nói: “Anh ấy cho rồi, chúng mày vào đi!”. Và chúng cứ ở lỳ trong đó, không chịu trả hầm. Bưởng nào yếu thế thì biết thân biết phận chuồn mau, bưởng nào có tí máu mặt lên tiếng đòi lại thì cuộc hỗn chiến đẫm máu nổ ra ngay lập tức. Nếu vụ huyết chiến này vẫn chưa giải quyết xong thì đêm hôm đó, một trong hai bên sẽ ôm mìn ném vào lán của nhau. Thuốc nổ ở các bãi vàng nhiều còn hơn gạo. Dân đào vàng nơi đây đã quen với những buổi sáng thức dậy thấy một cái lán sập tan nát vì thuốc nổ và những con người trong cái lán ấy đã cùng chịu chung một số phận.

Một hầm đào vàng ở Bãi Nhâu
Ban đầu, thấy cảnh đánh nhau, Hạnh còn dừng tay nghe ngóng, nhưng về sau người ta đánh nhau nhiều quá, đến nỗi không ai thèm quan tâm. Có lần đang đứng nghiền đá, Hạnh thấy một bàn tay đầy máu rơi ngay dưới chân mình! Thì ra bàn tay đó là của một kẻ cướp hầm bị bưởng xua đám cửu đuổi chém.
Những vụ tai nạn do bị ngạt, bị sập hầm khi đánh mìn... thi thoảng lại xảy ra. Có vụ ba cửu chết ngạt trong cái hang sâu vài trăm mét. Ba ngày sau người ta mới đưa được ba cái xác lên miệng hầm. Tất cả đều đã trương lên và bốc mùi kinh khủng. Hình ảnh một người cầm bát hương nghi ngút khói đi đầu, theo sau là ba cái cáng khiêng ba người chết, lầm lũi đi trong một buổi chiều đông giữa rừng thiêng nước độc, đến giờ vẫn còn ám ảnh trong tâm trí anh Hạnh.
Ở Bãi Nhâu, những bưởng bị cướp không ít, nhưng bưởng cướp lại của cửu cũng nhiều không kém. Người ta cướp bằng cách vài tháng không trả lương để cửu chán phải bỏ đi, anh nào lỳ không chịu đi thì bị vu ăn cắp và bị đánh thừa sống thiếu chết. Có một cửu bị đập báng súng vào mặt, ngã lộn từ đỉnh núi xuống đến chân núi, thân xác mềm như một đống thịt vì gãy gần hết xương. Kẻ chủ mưu giết người chỉ bỏ ra 16 cây vàng bồi thường gia đình nạn nhân. Những vụ như thế này, người ta cũng chẳng hơi sức đâu mà trình báo công an. “Vàng khiến con người suy đồi nhanh lắm”, anh Hạnh chua chát nhận xét. Bản thân bưởng Hạnh cũng có lần bị chính người nhà chơi xấu. Số là có lần bưởng Hạnh tìm được nẹp vàng kha khá, một người em họ biết chuyện bèn xua cửu đào một địa đạo từ chân núi cắt ngang hầm của Hạnh. Hầm của bưởng Hạnh đào thẳng từ trên xuống, gặp địa đạo cắt ngang coi như là mất. Dân làm vàng gọi kiểu cướp này là “cắt đáy”. Người bị cắt đáy vẫn được coi là may mắn vì chỉ bị “đập nồi cơm” chứ không nguy hiểm tính mạng. Nhiều hầm bị đánh sập trụ chống mới thật sự bi đát. Khi đào sâu vào núi, gặp nơi địa chất yếu, các bưởng phải để lại một số nẹp đá làm trụ. Những nẹp đá này thường ngậm rất nhiều vàng. Đêm đến, bưởng bên cạnh cho cửu đánh mìn thông sang hầm bên cạnh chặt luôn cột chống đem về nghiền lấy vàng. Hôm sau, nếu không sớm phát hiện, cả nhóm cửu có thể bị vùi thây ở độ sâu vài trăm mét.
So với đám bưởng và cửu ở Bãi Nhâu thì anh Hạnh là người “nhiều chữ” nhất. Vì thế, bất cứ vụ việc nào liên quan đến giấy tờ, vay mượn tiền nong hoặc các khế ước khác, thậm chí cần phải hòa giải bằng... lý, đám này cũng đều nhờ cậy anh. Mang tiếng ở giữa bãi vàng nhưng công việc anh Hạnh làm có khi phần nhiều lại liên quan đến giấy mực. Đến nỗi cả bãi vàng gọi lán của anh Hạnh là “lán đại học”. Không giống những chủ bưởng tàn ác, bưởng Hạnh ăn cùng mâm, ngủ cùng lán và không bao giờ đánh cửu. Chính vì nằm chung với đám cửu nghiện 100%, hằng ngày phải ngửi hơi thuốc phiện quen thuộc như cơm ăn nước uống, khi không làm vàng nữa, bưởng Hạnh ngây ngất mất mấy ngày liền!

Hầm này được đào cách đây 20 năm
CÁI ÁC CHỢT LÓE LÊN
Hình như làm bưởng thì phải ác hoặc chí ít phải là dân giang hồ cộm cán mới đủ độ lỳ và liều lĩnh để sống mái với vàng, lương thiện và chỉ biết cầm bút như anh Hạnh thì cuộc thử thách với vàng thực sự là nghiệt ngã. Rất chăm chỉ, không hoang phí, không ăn chơi sa đọa mà không hiểu sao số vàng kiếm được không đủ để bưởng Hạnh nuôi quân, chứ đừng nói làm giàu. Có bận hàng tháng trời chẳng kiếm được gì, cả bưởng lẫn cửu chỉ ăn cơm với muối. Thấy lán bên cạnh làm ăn được, ăn uống thừa mứa, vứt bỏ đầu cá mắm vì không thèm ăn, bưởng Hạnh nhặt lại, rửa sạch cho anh em trong lán mình, vừa ăn vừa rớt nước mắt. Một lần vì thương anh em hàng tháng không được ăn miếng thịt nào, Hạnh đi mua thiếu hai cân thịt. Nhưng khốn thay, một người trong lán đã rót nhầm can dầu hỏa ra để rửa thịt, rửa lại bằng nước thế nào cũng không hết mùi! Bỏ đi thì tiếc, anh này tặc lưỡi cứ thế cho lên bếp nấu và cả bọn cùng ăn. Đến bây giờ, mùi vị của miếng thịt ướp dầu hỏa khi ấy vẫn phảng phất trong đầu anh Hạnh mỗi khi nhớ lại. Có điều lúc đó, Hạnh và mọi người vẫn cảm thấy miếng thịt ngon đặc biệt. Đói khiến con người ta lúc nào cũng chỉ mơ đến những bữa ăn ngon, đến nỗi đám cửu đặt tên cho hai con chó nuôi ở lán là “dao” và “thớt”.
Có lần lán hết gạo hai ngày, tiền cũng hết, bưởng Hạnh nghĩ đến con chó của mình - tài sản có giá trị nhất trong nhà. Nhưng khổ nỗi con chó này là bạn thân thiết nhất của đứa con trai. Vậy mà cuối cùng bưởng Hạnh cũng phải cắn răng bán lấy chín ngàn đồng, để lại cho vợ bốn ngàn, còn lại năm ngàn mang vào lán mua gạo cho anh em. Chính cái hôm buộc phải bán con chó, bưởng Hạnh bất chợt gặp ánh mắt xót xa của người vợ. Ánh mắt chứa đựng sự hy vọng sau mỗi lần trở về của người chồng từ bãi vàng khiến bưởng Hạnh càng quyết tâm phải tìm kiếm được nhiều vàng.
Bên cạnh lán của bưởng Hạnh là lán bưởng Khoa, người Ninh Bình. Dạo ấy, lán của Khoa trúng lớn, mổ gà mổ lợn khao quân mấy ngày liền. Bia rượu chảy như suối, khói thuốc phiện từ lán tỏa ra ngào ngạt suốt ngày đêm. Chán đám gái làng chơi nhàu nhĩ ở bãi vàng, bưởng Khoa ra Thái Nguyên tuyển ba chục gái điếm hạng sang đưa vào bãi cho đám cửu “liên hoan”. Nhớ đến ánh mắt buồn bã, chứa đầy sự mệt mỏi và hy vọng của người vợ, một ý nghĩ ghê rợn chợt loé lên trong đầu bưởng Hạnh: Sẽ chặn đường, dùng búa đập chết Khoa để cướp vàng. Nhưng cũng thật may, đó chỉ là một giây tiêu cực thoáng qua. Thật bất ngờ, sáng hôm sau, Khoa sang nói với Hạnh: “Anh biết chú đói, anh cho chú mười xô đá, cho chú cả dầu, cho mượn máy nghiền, đãi được bao nhiêu anh cho hết”. Trước đó, bưởng Khoa cũng cho một người bạn mười xô đá. Anh này kiếm được năm cây vàng. Đến lượt Hạnh, mười xô đá đãi đi đãi lại, số vàng thu được chưa đầy hai chỉ!
Thiếu ăn khổ một nhưng thiếu nước thì khổ mười. Tất cả những dòng suối đều nhiễm cyanua và thủy ngân rất nặng. Hầu hết những người ở bãi vàng đều bị kiết lỵ kinh niên, bệnh ngoài da thì 100%. Để có nước sạch, dân làm vàng phải cõng nước ăn cách vài cây số. Với một chậu nước, người ta vừa rửa mặt, vo gạo, rửa rau, rửa bát và cuối cùng là rửa chân. Tắm ở Bãi Nhâu là điều xa xỉ, không mấy ai dám nghĩ. Bưởng Hạnh phải... để dành mỗi khi về thăm nhà mới tắm một lần.
(Còn tiếp)