(CATP) Làm thơ đăng báo, học ngoại ngữ để ra nước ngoài hay bán tất cả gia tài đang có, đóng giả đại gia vào chốn ăn chơi... là những cách mà các ông bố này đã làm trong thời gian dài tìm kiếm con bị lừa bán. Họ chỉ là những người nông dân nghèo, quyết tâm tìm con bằng mọi giá.
Một chữ tiếng Hoa không biết, quanh năm chỉ biết có ruộng đồng, vậy mà khi hai cô con gái mất tích, ông đã lặn lội một mình sang tận Trung Quốc tìm. Sau 12 năm xuôi ngược, hết đi lại về vì kinh phí có hạn, những tưởng giữa trời đất bao la ấy ông khó có thể toại nguyện nhưng rồi tình cha con đã giúp ông tìm được hai cô con gái, đưa về quê nhà. Người nông dân có quyết tâm phi thường ấy là Hà Như Hà, ở thôn Hà Xá, xã Đỗ Sơn, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ.
BUỔI ĐI CẤY THUÊ DÀI... MƯỜI HAI NĂM
Với gia đình ông Hà, cái ngày định mệnh ấy không thể nào quên. Đó là ngày mùng 10 tháng 1 âm lịch năm 1996. Hai cô con gái của ông là Hà Thị Kim Lựu, 17 tuổi và Hà Thị Tuyết Liễu, 15 tuổi, xin phép mẹ sang xã bên cấy thuê rồi biệt tích từ đấy.
Tối hôm trước, Liễu nói với mẹ về việc được người xã Đỗ Xuyên thuê cấy lúa với tiền công 20.000 đồng (một cái giá quá cao lúc bấy giờ) và rủ chị gái đi cùng. Lo con gái chưa đi xa bao giờ, bà Lán - mẹ hai cô - dặn con nhớ vào nhà ông Dục, bạn bố gửi xe để ông Dục biết mặt người phụ nữ thuê cấy. Vì tối đó ông Hà ngủ ở lều trông cá nên không biết chuyện, nhưng nghe vợ kể dặn dò con cẩn thận cũng yên tâm phần nào. Tuy nhiên, đến sẩm tối vẫn không thấy con về, linh tính người cha mách bảo có chuyện chẳng lành.
Ông Hà đạp xe sang xã Đỗ Xuyên tìm con. Trên đường, ông ghé vào tất cả những thửa ruộng có người để hỏi thăm nhưng không một ai biết thông tin về hai cô gái đi cấy thuê. Ông Hà tìm đến nhà ông Dục thì được biết từ sáng đến giờ không thấy Lựu, Liễu đến gửi xe, ruộng ở đây cũng đang thiếu nước nên chưa thể cấy được. Ông Hà chỉ kịp thốt lên: “Thế là các con tôi bị lừa rồi!”. Suốt đêm hôm ấy, thôn Hà Xá đốt đuốc sáng rực, mọi người chia nhau đến tất cả các xã trong huyện và vùng lân cận tìm kiếm nhưng không có kết quả. Phán đoán có thể các cô bị đưa lên biên giới, hôm sau ngoài việc trình báo Công an Phú Thọ, Hà Nội, ông Hà cắt cử người trong họ hàng lên các cửa khẩu Lạng Sơn, Móng Cái, Lào Cai mai phục nhưng trời đất mênh mông, giữa nơi biên cương có chi chít đường mòn, làm sao “bắt” đúng con đường bọn tội phạm dẫn gái đi qua.
Không tìm được con, bà Lán đổ bệnh nặng, một mình ông Hà lo thuốc thang, cày cấy. Không cam chịu, ông dặn dò mấy đứa con lớn việc canh tác ruộng đồng rồi vay mượn tiền, lên đường tìm con.
HÀNH TRÌNH DẰNG DẶC
Đầu tiên ông tìm ở trong nước. Để lọt vào những chốn ăn chơi, ông đóng giả đại gia, cùng bạn bè “hét” chủ quán đưa hết tiếp viên ra để lựa chọn nhằm mục đích tìm con nhưng không thấy. Hết tiền, ông giả làm hành khất, vạ vật nơi cửa các chùa chiền, nơi tổ chức lễ hội để tìm con. Mỗi ngày qua đi, hy vọng càng mờ mịt nhưng tấm lòng người cha vẫn thôi thúc ông phải tìm con bằng mọi giá. Bán lúa, bán lạc, bán lợn, rồi bán cả trâu bò, bán tất cả những thứ có giá trị trong nhà, ông lại tiếp tục hành trình tìm con. Nhìn cảnh nhà xác xơ, nhiều người khuyên ông không nên đi tìm nữa, dành thời gian chăm vợ lúc này gần như ngớ ngẩn và những đứa con còn lại. Đêm đêm, nằm nghe tiếng côn trùng rỉ rả, lòng dạ ông xốn xang, tưởng như tiếng khóc than của hai cô con gái xin bố đi “cứu”. Không ngủ được, ông trở dậy đốt thuốc. Nhìn ảnh hai con tươi cười mà trước đó vợ ông đã đặt trên ban thờ, lấy ngày mất con để cúng giỗ, ông lại thấy mình như có lỗi với các con. Giá như tối đó ông ngủ ở nhà, không ra lều trông cá thì gia đình ông không mất cùng lúc hai cô con gái. Dằn vặt, day dứt, ông quyết định sang Trung Quốc tìm con mặc dù biết sẽ điệp trùng khó khăn. Một người nông dân chỉ quen cuốc cày như ông sẽ làm gì ở nước láng giềng rộng mênh mông ấy?
Trong khi ông đang thu xếp việc thế chấp ngân hàng vay tiền đi tìm con thì một bức thư từ Trung Quốc “lạc” vào nhà ông. Trong thư, người phụ nữ tên San, buôn bán tại một bến xe ở Phòng Sình, tỉnh Quảng Tây, thông báo đang cưu mang cô Hà Thị Kim Lựu cùng hai đứa con, nếu gia đình nhận được thư thì sang đón. Ngay tối đó, ông gọi người đến bán lợn, bán lúa rồi đón xe lên Móng Cái, cầm theo địa chỉ của bà San, lòng chứa chan hy vọng.
MỘT MÌNH NƠI ĐẤT KHÁCH
Đến cửa khẩu Móng Cái, nhìn nhà cửa san sát, đi lại tấp nập, người nông dân “chính hiệu” này mới vỡ lẽ rằng nếu không tìm được đúng các đối tượng chuyên nghề “dẫn đường” thì việc sang Trung Quốc chẳng khác nào tìm đường vào sa mạc. Lân la dò hỏi, ông được những người cửu vạn, xe ôm “chỉ chỏ” đến gặp một người đàn ông Trung Quốc sang Việt Nam làm ăn. Cầm địa chỉ ông Hà đưa ra, người này đòi công 5 triệu đồng và cho biết chỉ dẫn tới bến xe đó còn đi đâu tự ông định liệu. Biết là vận may rủi, ông vẫn gật đầu.
Sau chặng đường liên tục thay đổi từ ô tô đến xe máy, xe lôi, ông Hà đến được bến xe Phòng Sình, tỉnh Quảng Tây cũng là lúc công việc dẫn đường của người đồng hành chấm dứt. Còn lại một mình giữa nơi xa lạ, một chữ tiếng Trung không biết, ông Hà chỉ còn cách cầm địa chỉ của bà San trên tay giơ trước mặt những người đi đường nhưng chỉ nhận được những cái lắc đầu vì họ chẳng hiểu ông muốn gì. Không biết đi đâu, làm gì, muốn quay về cũng không được, ông quyết định ở lại bến xe, hy vọng sẽ gặp được người Việt sang buôn bán. Phải rất lâu sau ông mới nghe thấy tiếng nói thân thương của Tổ quốc từ mấy người phụ nữ. Mừng đến chảy nước mắt, ông lao ra, vồ vập hỏi thăm và được chỉ về quán cháo đối diện với chỗ ông ngồi trước đó. Đó chính là nhà người đàn bà đã viết thư cho ông. Mừng quá, ông lia lịa đưa tay vái tạ những người phụ nữ đã chỉ chỗ cho mình. Chỉ vài phút nữa thôi, ông sẽ gặp được đứa con bấy lâu tìm kiếm.
Qua trò chuyện, ông Hà mới hay bà San từng bỏ nhà đi tìm con. Hành trình đã trở nên dài hơn khi bà bị những kẻ dẫn đường sang Trung Quốc “đẩy” vào nhà chứa. Sau khi thoát khỏi nhà chứa, bà tìm được con gái và để được ở lại chăm cháu ngoại cho con gái đi làm xa, bà tình nguyện là người làm thuê cho gia đình thông gia. Những ngày bán hàng ở bến xe, bà chứng kiến nhiều cô gái Việt Nam bị lừa sang đây. Có người may mắn trở thành vợ những người đàn ông nghèo bản xứ, nhiều cô bị đẩy vào nơi ô nhục, không được ra ngoài đường chứ chưa nói đến chuyện tìm về quê hương.
Một ngày, có hai người phụ nữ dẫn theo hai đứa nhỏ vào quán của bà San. Không hiểu họ nói với nhau chuyện gì mà người phụ nữ trẻ (đó là Lựu) quỳ xuống van xin người kia được giữ lại hai đứa trẻ. Lân la trò chuyện, bà San biết cô gái trẻ bị người đàn bà đi cùng lấy hết tiền bạc, ép phải bán hai đứa con mới dẫn về Việt Nam, nếu không sẽ bán cô vào nhà chứa. Từng mất con, từng trải qua những ngày ô nhục trong nhà chứa, bà San thấy thương cô gái nên đã giữ ba mẹ con cô lại. Sau khi hỏi han gia cảnh, chính tay bà đã viết thư về cho ông Hà thông báo tình hình. Cảnh làm thuê nơi đất khách, bà San không dám giữ ba mẹ con Lựu trong nhà lâu. Để đảm bảo an toàn cho cô, trong lúc chờ ông Hà sang, bà gả tạm Lựu cho một người đàn ông tên là Lềnh Chiều Hy ở gần đó với điều kiện phải đối xử tử tế với ba mẹ con Lựu, bà không lấy tiền nên lúc nào có người sang đón thì y phải trả “vợ”.
Ngay chiều hôm đó, người phụ nữ tốt bụng lắm truân chuyên thuê xe chở ông Hà đến nhà con gái. Gặp bố, Lựu mừng quá, ôm chầm lấy bố. Hai bố con nước mắt tuôn trào.

Vợ chồng ông Hà chụp ảnh cùng mẹ con chị Liễu
NGÀY ĐOÀN TỤ
Theo lời kể của Lựu thì hôm đó, sau khi nhận lời sang Đỗ Xuyên cấy thuê, hai chị em được một người đàn bà tên Thanh dẫn qua đò, nói là đi lấy mạ. Đầu óc cả hai đều mụ mị sau khi ăn miếng bánh chưng rán người đàn bà này đưa cho, tỉnh dậy thấy mình ở một nơi heo hút, bốn bề là rừng núi. Người bị đưa đi bán trước là Liễu, ba ngày sau Lựu cũng bị đưa đi. Người chồng mà Lựu bị gả bán là một người đàn ông đứng tuổi họ Trần, thấy cô hay khóc đã thường ra tay đánh thậm tệ. Không chịu nổi, nhân lúc tên kia đi vắng, Lựu bỏ trốn nhưng tiếng không biết, trong túi chẳng có tiền nên cô bị bắt lại khi đang lang thang trong phố huyện. Sau khi lôi cô về nhà, chửi đánh không tiếc tay, “con chó già” mang dao phay ra chặt vào bậc cửa, ra hiệu cho cô biết nếu còn bước chân qua cửa sẽ chặt đứt chân. Sợ quá, Lựu không dám bỏ đi, nhưng nỗi nhớ nhà luôn thôi thúc cô bỏ trốn. Trong một lần đi làm nương, Lựu gặp Thủy, cũng là gái Việt Nam bị bán cho một người đàn ông cùng làng, hai người bàn nhau bỏ trốn. Lần bỏ trốn này cũng không thành, Lựu bị đánh đến nỗi lê lết hàng tháng trời mới tập tễnh đi được, từ đó không dám tơ tưởng đến chuyện chạy trốn nữa. Hai đứa con trai lần lượt chào đời nhưng cuộc sống của Lựu ngày càng tăm tối hơn bởi gánh nặng cơm áo của cả gia đình đè lên vai cô. Không chịu nổi cuộc sống địa ngục bởi một tên vũ phu, Lựu ôm hai con và 500 tệ, bỏ trốn cùng một phụ nữ cùng làng và suýt bị thị bán vào lầu xanh nếu không gặp được bà San.
Tối ấy, ông Hà gặp được chồng Lựu. Sau cuộc nói chuyện, tên Lềnh đồng ý cho Lựu về thăm nhà năm ngày và để được về hẳn, cô phải quay lại làm vợ y hai năm nữa. Năm 2003, Lựu cùng hai con về nước, đoàn tụ với gia đình. Tấm ảnh hai chị em được che đi một nửa nhưng mỗi khi nhìn lên, thấy Liễu tươi cười, ông Hà lại xót xa trong lòng. Ông quyết định phải làm chuyến phiêu lưu nữa để tìm nốt đứa con gái út.
Ông Hà tâm sự: Khi xem chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” trên Đài truyền hình Việt Nam những buổi phát sóng đầu tiên, tôi định viết thư nhờ tìm con Liễu nhưng chưa thực hiện thì tháng 5-2008 tôi đã tìm được con”.
Sau một lần ra “nước ngoài”, những lần sau, hễ ki cóp được chút tiền nào, ông lại quày quả lên biên giới tìm con. Gặp bất cứ người Việt Nam nào làm ăn bên đó, ông đều để lại địa chỉ và dặn họ nếu gặp cô gái nào có hoàn cảnh như con gái ông thì gọi ông sang đón. Ngày 5-3-2008, trong lúc ông Hà đang làm cơm giỗ mẹ thì nhận được thư Liễu gửi về. Trong thư cô cho biết đã nhận được lời nhắn của bố. Cô đang sống ở huyện Lồ Tình, tỉnh Quảng Đông, mong bố nhanh chóng sang đón về. Cả nhà được phen rối rít, người lên xã xin giấy tờ, người chạy đi gọi thợ đến mua thóc, mua lợn, gom tiền để ông Hà đi “biên giới”.
So với lần đi đón Lựu, đường đi Quảng Đông xa hơn nhiều. Hai ngày ngồi trên ôtô, số tiền 10 triệu ông mang theo đã vơi một nửa. Sợ không gặp được con mà tiền không đủ về, mấy ngày liền ông chỉ dám ăn một gói mì tôm sống. Đến Lồ Tình, gặp được con, ông mới thấy xây xẩm mặt mày vì đói. Liễu may mắn hơn chị, được bán cho một gia đình tử tế nhưng hiếm muộn nên bắt cô sinh nở liên tục. Chưa đầy 30 tuổi mà Liễu đã năm lần sinh nở. Nhà nghèo đông con, vợ chồng Liễu phải vào rừng khai hoang, lập trang trại và đó cũng là cơ hội để cô được tiếp xúc với những đồng bào Việt Nam mang theo lời nhắn của cha cô. Do vẫn bị ám ảnh bởi lần bị lừa bán đầu đời nên Liễu không dám trốn theo họ, chỉ viết mấy chữ nhờ họ gửi hộ. Sau lần gặp gỡ đó, ông Hà lại sang Quảng Đông một lần nữa, đón con gái về thăm nhà. Gặp được con, bà Lán không còn quẫn trí nữa, bà dắt con đến chào hỏi từng người, đều là những láng giềng biết tin hai đứa con biệt tích trở về đến chúc mừng. Từ ngày bặt tin con, đã 12 năm trôi qua, gia đình ông Hà mới có ngày vui đến vậy. Hai đứa con của Lựu được ông đổi tên là Hà Trung Dũng và Hà Quốc Thành, lấy họ của ông ngoại đặt cho, giờ một cháu học lớp 5, một cháu học lớp 3. Lựu đã theo anh chị vào Nam lập nghiệp, Liễu do nặng gánh gia đình, chỉ ở lại chơi ít ngày rồi lại trở về xứ người. Liễu bảo nhớ cha mẹ nhưng tiếng gọi của năm đứa trẻ đã buộc cô phải nén lòng. Mặc dù phải xa con nhưng giờ đây vợ chồng ông Hà không còn thắc thỏm về con nữa. Tấm ảnh hai chị em để trên bàn thờ được cất xuống, khép lại chặng đường hơn chục năm trời tìm con của một lão nông. Một kết thúc có hậu mà ai cũng thấy cảm phục nghị lực phi thường của một người nông dân, mười năm trời có lẻ tìm con.
(Còn tiếp)
THANH HOÀ - HÀ MY (theo CAO)