Giải đáp pháp luật

Tôi có được hưởng thừa kế mảnh đất 2 tỷ đồng?

Mong các bạn tư vấn giùm. Ba mẹ tôi ly hôn cách đây 15 năm, tôi ở với mẹ. Trong quá trình chia tài sản thì ba không kê khai miếng đất do hai người mua lúc sống chung. Hiện tại, miếng đất nằm trong khu quy hoạch và được bồi thường gần 2 tỷ. (Nguyễn Lê)

Ba tôi đã mất và không để lại di chúc, vậy tôi có quyền thừa kế hay được chia phần số tiền bồi thường đất đó không? Ba tôi và người vợ sau có một đứa con chung.

Cám ơn sự tư vấn của các bạn

Tư vấn cho bạn Nguyễn Lê, luật sư Vũ Tiến Vinh cho biết: "Mẹ bạn được hưởng 1/2 giá trị miếng đất, cha bạn được hưởng 1/2 giá trị miếng đất. Nay cha bạn đã chết mà không để lại di chúc thì phần tài sản cha bạn để lại sẽ được chia đều cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất".

Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng gồm: "Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận”

Như vậy, về nguyên tắc tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung vợ chồng và nếu ly hôn thì phân chia theo nguyên tắc chia đôi (Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình). Nguyên tắc này cũng áp dụng cho cả trường hợp chia tài sản sau ly hôn.

Do vậy với quy định trên thì mẹ bạn được hưởng 1/2 giá trị miếng đất, cha bạn được hưởng 1/2 giá trị miếng đất. Nay cha bạn đã chết mà không để lại di chúc thì phần tài sản cha bạn để lại (nay là tiền đền bù đất) sẽ được chia đều cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất của cha bạn gồm: ông bà nội (bố đẻ, mẹ đẻ của cha bạn), các con (con đẻ, con nuôi, con ngoài giá thú) của cha bạn, người vợ thứ hai (nếu khi cha bạn chết hôn nhân với người vợ thứ 2 vẫn đang tồn tại).

Luật sư Vũ Tiến Vinh
Công ty Luật Bảo An
41 Trần Hữu Tước, Đống Đa, Hà Nội

Theo VnExpress

 

Giá đất để tính bồi thường do cơ quan nào quyết định?

(CAO) Hỏi: Năm 2007, tôi được người chị ruột cho một căn nhà cấp 4 đã có “giấy hồng” ở quận Bình Thạnh, TPHCM. Mới đây, UBND quận thông báo sẽ giải toả một phần căn nhà của tôi để mở rộng đường. Xin cho biết, căn nhà của tôi có được bồi thường không? Giá đất để tính bồi thường do cơ quan nào quyết định?
(Một bạn đọc ở Q.Bình Thạnh, TPHCM)

Trả lời: Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Quyết định số 17/2008/QĐ-UBND ngày 14-3-2008 của Uỷ ban nhân dân TPHCM “quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, giá đất để tính bồi thường là giá đất do Ủy ban nhân dân Thành phố quy định tại thời điểm thu hồi đất theo mục đích đang sử dụng của đất bị thu hồi được công nhận theo quy định của pháp luật.

Trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá đất do Ủy ban nhân dân thành phố quy định chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận - huyện chỉ đạo Ban Bồi thường, giải phóng mặt bằng thuê đơn vị tư vấn có chức năng thẩm định giá xác định giá đất để tính bồi thường sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường; sau khi có kết quả của đơn vị tư vấn, Ủy ban nhân dân quận - huyện xem xét, đề xuất đơn giá đất để tính bồi thường và có văn bản gửi Sở Tài chính để Sở chủ trì cùng các Sở, ngành liên quan thẩm định và trình Ủy ban nhân dân thành phố xem xét, quyết định.

Ngoài ra, khoản 2 Điều 5 của Quyết định cũng quy định bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản hiện có gắn liền với đất và các chi phí đầu tư vào đất bị Nhà nước thu hồi.

Như vậy, khi thu hồi đất để mở rộng đường thì căn nhà cấp 4 của bạn cũng sẽ được bồi thường theo quy định trên.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

DN kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành lập hóa đơn như thế nào?

Hỏi:
DN được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để đầu tư xây dựng nhà để bán, cho thuê; đầu tư cơ sở hạ tầng để bán, cho thuê; dịch vụ vận tải; dịch vụ du lịch lữ hành quốc tế lập hóa đơn như thế nào ?

Trả lời:

Tại điểm 2.13 khoản 2, Mục IV, Thông tư số 129 quy định:

a) Dòng giá bán ghi giá bán nhà, cơ sở hạ tầng (trên hoá đơn ghi tách riêng giá bán nhà và giá đất hoặc giá thuê đất, giá cho thuê cơ sở hạ tầng); doanh thu về vận tải; doanh thu du lịch lữ hành trọn gói chưa có thuế GTGT.

b) Dòng giá tính thuế GTGT là giá được xác định theo điểm 1.8 mục I phần B Thông tư này; doanh thu vận tải; doanh thu du lịch đã trừ các chi phí phát sinh ở nước ngoài như ăn, ở, cước vận chuyển.

c) Dòng thuế suất, tiền thuế GTGT, giá thanh toán ghi theo quy định.

Trường hợp cơ sở kinh doanh bất động sản, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng nhà để bán, chuyển nhượng có thực hiện thu tiền theo tiến độ thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng thì khi thu tiền, cơ sở kinh doanh phải lập hóa đơn GTGT. Trên hóa đơn ghi rõ số tiền thu, giá đất được giảm trừ trong doanh thu tính thuế GTGT, thuế suất thuế GTGT, số thuế GTGT. Giá đất được trừ tính theo tỷ lệ (%) của số tiền thu theo tiến độ thực hiện dự án hoặc tiến độ thu tiền ghi trong hợp đồng với giá đất được tính trừ tại thời điểm chuyển nhượng (thời điểm thu tiền lần đầu theo tiến độ) theo quy định.

VATC (theo dddnOnline)

 

Tách sổ và chuyển mục đích thửa đất nhỏ hơn tiêu chuẩn

TTO - * Năm 2007 tôi có mua một miếng đất tọa lạc tại phường Linh Tây, quận Thủ Đức, TP.HCM, diện tích 56m2 (4mx14m) thuộc khu vực dân cư tập trung, không thuộc diện quy hoạch dự án. Hợp đồng chuyển nhượng đã được UBND phường xác nhận, nhưng thời điểm đó tôi chưa có điều kiện để tách sổ và chuyển mục đích sử dụng.

Tôi muốn hỏi do đất mua trước thời điểm quyết định số 19/2009/QĐ-UBND có hiệu lực, nên liệu tôi có được tách sổ và chuyển mục đích sử dụng? Mong sớm được phản hồi. Xin cảm ơn.

Nguyễn Đình Thu (dinhthu@... )

- Trả lời của luật sư Huỳnh Văn Nông:

Theo điểm đ khoản 2 điều 1 của quyết định số 19/2009/QĐ-UBND ngày 25-2-2009 của UBND TP.HCM thì các trường hợp tách thửa do chuyển quyền sử dụng đất đã được công chứng, chứng thực trước ngày quyết định này có hiệu lực thi hành thì thực hiện thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật. Nghĩa là quyết định 19 nêu trên sẽ không áp dụng cho trường hợp của bạn.

Do vậy, bạn nên sớm liên hệ văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc UBND quận Thủ Đức để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Việc thửa đất của bạn có được chuyển mục đích thành đất ở cùng lúc với cấp giấy chứng nhận (do chuyển nhượng một phần) hay không phụ thuộc quy hoạch tại nơi thửa đất của bạn tọa lạc.

Theo quy định tại điều 30 của nghị định 181/2004/NĐ-CP, tại vị trí thửa đất muốn chuyển mục đích thành đất ở phải có quy hoạch sử dụng đất chi tiết hay kế hoạch sử dụng đất chi tiết (là đất ở), hoặc quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Cụ thể thửa đất phải phù hợp với quy hoạch chi tiết sử dụng đất.

Trường hợp chưa có quy hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc kế hoạch sử dụng đất chi tiết thì căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt (quy hoạch định hướng).

Thân ái chào bạn.

Luật sư HUỲNH VĂN NÔNG

 

Người ngoại tình có bị pháp luật xử lý không?

Chồng tôi quan hệ bất chính, có con với người khác. Tôi có quyền đề nghị pháp luật giải quyết vi phạm của chồng tôi và người đàn bà kia không? Nếu được thì mức độ xử lý thế nào? Mong các bạn tư vấn cách giải quyết. (Thu Trinh)

Chúng tôi chung sống với nhau từ tháng 2/2000 nhưng đến tháng 7/2002 mới đăng ký kết hôn, đã có 2 con chung. Tôi là công chức nhà nước, thu nhập không cao. Chồng tôi kinh doanh mở công ty riêng là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình. Năm 2004, chồng tôi quan hệ bất chính và có con chung với người đàn bà khác.

Về tài sản, năm 2001 chúng tôi mua một ngôi nhà đã được cấp sổ đỏ mang tên cả hai vợ chồng. Tháng 7/2007, chúng tôi mua thêm một ngôi nhà khác và cũng đã được cấp sổ đỏ mang tên cả hai vợ chồng.

Tiền mua nhà, xây nhà và mua sắm các tài sản khác đều do chồng tôi làm ra, tôi không tham gia hay có đóng góp gì trong hoạt động kinh doanh của chồng.

Vậy xin hỏi: Chúng tôi chung sống từ tháng 2/2000 nhưng đến tháng 7/2002 mới đăng ký kết hôn. Vậy thời điểm hôn nhân được xác định từ thời điểm nào? Những gì được xác định là tài sản chung của vợ chồng tôi? Và tôi có quyền đề nghị pháp luật xử lý hành vi vi phạm của chồng tôi và người đàn bà kia không? Hành vi của họ bị xử lý như thế nào?

Trân trọng cám ơn sự tư vấn của các bạn.

Theo luật sư Nông Thị Hồng Hà, người vi phạm chế độ một vợ, một chồng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu mức phạt từ cảnh cáo tới mức cao nhất 3 năm tù, nếu hành vi đó “gây hậu quả nghiêm trọng” hoặc người đó “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.

Theo quy định của Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 và Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 3/1/2001 thì đối với trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 trở đi đến trước ngày 1/1/2001 mà kể từ ngày 1/1/2001 cho đến ngày 1/1/2003 đã đăng ký kết hôn thì quan hệ của họ vẫn được công nhận là đã xác lập kể từ ngày họ bắt đầu chung sống với nhau như vợ chồng, chứ không phải kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Như vậy, thời điểm được tính là vợ chồng của bạn là tháng 2/2000 tức thời điểm hai người chung sống.

Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”. Ngoài ra “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng”.

Do vậy tài sản chung của vợ chồng bạn sẽ là giá trị quyền sử dụng đất của hai mảnh đất và quyền sở hữu hai ngôi nhà trên và các tài sản khác mà vợ chồng bạn tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân.

Theo quy định tại Nghị định số 87/2001/NĐ-CP ngày 21/11/2001 thì người “Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng” sẽ bị phạt tiền từ 100.000-500.000 đồng và buộc chấm dứt quan hệ trái pháp luật.

Người vi phạm chế độ một vợ, một chồng còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 147 Bộ luật hình sự (với mức hình phạt từ cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù với mức cao nhất đến 3 năm) - nếu hành vi đó “gây hậu quả nghiêm trọng” hoặc người đó “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”.

Vì vậy, trường hợp chồng bạn có quan hệ bất chính, có con với một phụ nữ khác có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị xử lý về hình sự theo các căn cứ pháp lý nói trên.

Bạn có quyền đề nghị Chủ tịch UBND xã hoặc chủ tịch UBND huyện nơi cư trú xử lý (nếu thuộc trường hợp xử phạt vi phạm hành chính) hoặc Công an cấp quận, huyện xử lý (nếu thuộc trường hợp xử lý bằng biện pháp hình sự).

Luật sư Nông Thị Hồng Hà
Công ty Luật Hồng Hà
Số 8 Đình Ngang, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Theo VnExpress


 

Điều kiện miễn thuế TNCN khi bán nhà ở duy nhất

TTO - * Hai vợ chồng chỉ có duy nhất một căn nhà nát (thực tế chỉ có 4 bức tường, không ở được), mua được với giá rẻ do người cô ruột bán lại. Do chưa có tiền xây cất nên chúng tôi ở tạm tại nhà che mẹ ruột của tôi từ nhiều năm nay và để căn nhà nát trên trống không.

Nay do cần tiền muốn bán, vậy xin hỏi:

- Chúng tôi có được miễn thuế chuyển nhượng bất động sản 25%? Nếu có, phải làm những thủ tục gì, với cơ quan nào khi chuyển nhượng để chứng minh đây là tài sản duy nhất?

- Nếu không được miễn, thì thuế 25% chênh lệch giữa giá bán và giá mua sẽ gây thiệt thòi vì chúng tôi không kinh doanh (giá mua ban đầu cực kỳ thấp do quan hệ trong gia đình nên có tính chất vừa bán vừa cho nên giá trị trên hợp đồng có công chứng so với giá hiện tại chênh nhau khá lớn). Xin hỏi chúng tôi phải làm thế nào để chứng minh được mối quan hệ ruột thịt nếu buộc phải chịu thuế chuyển nhượng 25%?

- Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân và khoản 2, mục III, phần A thông tư 84 quy định miễn thuế thu nhập cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại VN. Khi chuyển nhượng nhà ở, đất ở duy nhất, người chuyển nhượng phải lập bản cam kết và chịu trách nhiệm về tính trung thực trong bản cam kết.

Như vậy, xin hỏi luật có yêu cầu người bán phải đang ở/cư trú tại căn nhà muốn chuyển nhượng hay không? Rất mong được giải đáp. Xin cảm ơn.

Chi Pham

- Trả lời của luật sư Huỳnh Văn Nông:

Theo những quy định liên quan đến vấn đề miễn thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ việc chuyển nhượng nhà ở duy nhất thì pháp luật không buộc người bán phải cư trú tại căn nhà đó. Việc miễn thuế này sẽ được đặt ra nếu như ngoài căn nhà chuyển nhượng, bạn không sở hữu căn nhà (hoặc một phần căn nhà) nào khác.

Vì căn nhà bạn đang muốn bán là tài sản chung của vợ chồng, thế nên, để được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với toàn bộ thu nhập từ việc bán nhà thì cả hai vợ chồng bạn - tại thời điểm bán nhà - không sở hữu căn nhà nào khác (kể cả sở hữu chung với người khác).

Như thông tin nói trên, thì hai vợ chồng bạn đang ở tạm nhà cha mẹ ruột - và tôi hiểu rằng vợ chồng bạn không có quyền sở hữu căn nhà đó - vì thuộc quyền sở hữu của cha mẹ bạn (người đứng tên trên Giấy chứng nhận). Lúc này, căn nhà của bạn sẽ được xác định là nhà ở duy nhất, và thu nhập từ việc bán căn nhà này sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân (Khoản 2  mục III, phần A Thông tư 84/2008/TT-BTC).

Những căn cứ để xác định thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, đất ở duy nhất được miễn thuế do người chuyển nhượng bất động sản tự khai và chịu trách nhiệm về tính trung thực trong bản khai - điểm 2.5 khoản 2 mục III phần A Thông tư 84/2008/T-BTC.

Theo quy định tại điểm 2.5, khoản 2 mục II Phần D Thông tư 84/2008/TT-BTC thì hồ sơ trong trường hợp này bao gồm: (i) Tờ khai thuế thu nhập cá nhân; (ii) Giấy chứng minh quyền sở hữu nhà; (iii) Hợp đồng bán nhà; (iv) Giấy cam kết nhà ở là duy nhất. Bạn có thể nộp hồ sơ khai thuế cùng hồ sơ chuyển nhượng bất động sản tại cơ quan quản lý bất động sản hoặc nộp trực tiếp tại Chi cục thuế nơi có căn nhà chuyển nhượng.

Liên quan đến thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng bất động sản: sẽ được áp dụng theo một trong hai thuế suất (i) 25% trên thu nhập chịu thuế - nếu cá nhân chuyển nhượng bất động sản có đầy đủ hồ sơ, chứng từ hợp lệ làm căn cứ xác định được giá chuyển nhượng, giá vốn và các chi phí có liên quan đến hoạt động chuyển nhượng; (ii) 2% trên giá chuyển nhượng - nếu không xác định được giá vốn và các chi phí liên quan (khoản 2 Điều 6 Thông tư 161/2009/TT-BTC).

Thân ái chào bạn.

Luật sư HUỲNH VĂN NÔNG

 

Quy định về trị giá tính thuế phần mềm NK?

Hỏi:
Xin cho biết quy định về trị giá tính thuế phần mềm NK?

Đáp:

Trị giá tính thuế phần mềm NK hiện nay đang được thực hiện theo quy định tại điểm 4 mục I Phần II Thông tư 40/2008/TT-BTC. Trường hợp DN không thống nhất với quyết định về trị giá của đơn vị hải quan thì có quyền khiếu nại lần thứ nhất đến cơ quan hải quan nơi trực tiếp ra quyết định về trị giá. Nếu vẫn không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại lần thứ nhất của cơ quan hải quan thì DN có quyền khiếu nại lần thứ 2 đến cấp trên trực tiếp của người ra quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính đến toà án theo đúng quy định của pháp luật.

Theo dddnOnline
 

Bán nhà thừa kế khi có một người vắng mặt có được không?

(CAO) Hỏi: Căn nhà tôi đang ở là tài sản chung của 2 đồng thừa kế. Năm 2003, người em của tôi đã bỏ nhà đi đến nay vẫn không có tin tức gì. Nay, tôi muốn bán căn nhà trên có được không?
(Trần Thanh Tâm, Q.4, TPHCM)

Trả lời: Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 57 Nghị định 90/2006/NĐ-CP ngày 6-9-2006 của Chính phủ "quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở quy định việc mua bán nhà ở thuộc sở hữu chung nhưng có chủ sở hữu chung vắng mặt" như sau :

Trường hợp có chủ sở hữu chung vắng mặt và không xác định được nơi cư trú của người đó thì các chủ sở hữu chung còn lại phải có đơn yêu cầu tòa án tuyên bố người đó mất tích theo quy định của pháp luật trước khi thực hiện bán nhà ở đó.

Căn cứ vào giá bán nhà ở ghi trong hợp đồng mua bán nhà ở, các chủ sở hữu chung còn lại có trách nhiệm gửi tiền bán nhà tương ứng với phần giá trị quyền sở hữu nhà ở của người mất tích vào ngân hàng thương mại nơi có nhà ở được bán; khi người được tuyên bố đã mất tích trở về và có yêu cầu thì ngân hàng đã nhận tiền gửi có trách nhiệm thanh toán lại cho họ cả tiền gốc và tiền lãi theo quy định về lãi suất không kỳ hạn tại thời điểm người được tuyên bố mất tích nhận lại tiền.

Trường hợp người được tuyên bố mất tích chết hoặc bị toà án tuyên bố là đã chết thì phần tiền đã gửi vào ngân hàng được chia cho những người thừa kế hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật về dân sự.

Do vậy, nếu bạn muốn bán nhà thì trước hết bạn phải làm đơn yêu cầu toà án tuyên bố người đó mất tích trước khi thực hiện bán nhà ở đó.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Lập di chúc mà không cần có công chứng thì có hợp pháp không?

(CAO) Hỏi: Vợ chồng tôi đứng tên mua một căn nhà ở quận 3, TPHCM. Năm 2007, chồng tôi đã lén lút mang bản chính “giấy hồng” (giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở) của căn nhà trên ra nước ngoài định cư. Nay tôi đến phòng công chứng lập di chúc để căn nhà trên cho con tôi nhưng công chứng viên từ chối công chứng vì không có bản chính “giấy hồng”. Công chứng viên từ chối như vậy có đúng không? Nếu đúng thì tôi có thể lập di chúc mà không cần có công chứng được không?
(Lê Thị H., ngụ ở Q.3, TPHCM)

Trả lời: Theo quy định tại Điều 35 Luật Công chứng, người yêu cầu công chứng nộp một bộ hồ sơ yêu cầu công chứng, gồm các giấy tờ sau: Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch theo mẫu; Dự thảo hợp đồng, giao dịch; Bản sao giấy tờ tuỳ thân; Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó; Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có. Khi nộp bản sao thì người yêu cầu công chứng phải xuất trình bản chính để đối chiếu.

Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu bị đe doạ, cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc có sự nghi ngờ đối tượng của hợp đồng, giao dịch là không có thật thì công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng.

Do vậy, khi lập di chúc tại phòng công chứng thì bạn phải có nhiệm vụ xuất trình đầy đủ bản chính giấy tờ theo quy định nêu trên để công chứng viên đối chiếu trước khi công chứng.

Tuy nhiên, tại khoản 4 Điều 652 - Bộ luật dân sự quy định: Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện sau đây:

Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

Do vậy, bạn có thể lập di chúc mà không cần phải có công chứng nhưng phải hội đủ các điều kiện trên.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Làm mất dữ liệu của khách hàng phải chịu trách nhiệm gì?

Tôi đang lo lắng, mong các bạn tư vấn giúp. Tôi hành nghề tự do trong ngành tin học, có nơi nhờ tôi ghi lại hình ảnh từ đầu ghi hình camera của một cơ quan bảo vệ pháp luật sang ổ đĩa khác. Quá trình làm, tôi đã vô tình làm mất hết dữ liệu. Họ luôn dọa sẽ xử lý tôi bằng pháp luật (Trần Đình)

Tôi không có ký cam kết, làm hợp đồng và cũng không được cảnh báo bất cứ gì về mức độ quan trọng của dữ liệu, tôi chỉ nghĩ đây cũng chỉ là một khách hàng thông thường như bao khách hàng khác mà tôi từng làm. Vậy xin cho tôi biết trách nhiệm của cá nhân tôi trong vụ việc này ở mức độ nào.?

Tôi đang rất hoang mang lo lắng, bởi đây là dữ liệu quan trọng của một cơ quan bảo vệ pháp luật. Mong nhận được ý kiến tư vấn của các bạn để tôi yên tâm và có hướng giải quyết.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Trả lời bạn Trần Đình về việc vô tình xóa mất dữ liệu của khách hàng, thạc sĩ Phạm Thanh Bình tư vấn: Rất khó để quy kết trách nhiệm hình sự; phải chứng minh được hình ảnh thu từ camera là "bí mật Nhà nước” thì mới có thể xét trách nhiệm của anh về tội vô ý làm mất tài liệu bí mật nhà nước.

Với thông tin do anh cung cấp thì giữa anh và công ty thuê anh đã hình thành quan hệ hợp đồng dân sự. Theo quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự (BLDS) về hình thức của hợp đồng thì: “Hợp đồng có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định”.

Vì vậy, việc anh không ký hợp đồng bằng văn bản với công ty kia không có nghĩa là anh không có nghĩa vụ và trách nhiệm gì đối với việc thực hiện công việc xuất phát từ hợp đồng đó.

Công việc mà anh đã thực hiện phù hợp quy định của pháp luật về hợp đồng dịch vụ, đó là “sự thỏa thuận giữa các bên, trong đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”.

Theo quy định tại Điều 522 BLDS về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ thì bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ: “... Bồi thường thiệt hại cho bên thuê dịch vụ, nếu làm mất mát, hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin”.

Theo các quy định vừa viện dẫn, quan hệ giữa anh và công ty thuê anh chỉ thuần túy là quan hệ pháp luật dân sự. Việc bạn vô tình làm mất hết dữ liệu có thể dẫn đến việc công ty yêu cầu anh phải bồi thường thiệt hại từ việc thực hiện Hợp đồng dịch vụ.

Tuy nhiên, việc đánh giá mức độ thiệt hại để xác định việc bồi thường thiệt hại phải dựa trên thiệt hại thực tế, theo quy định của pháp luật chứ không phải theo mong muốn của bên bị thiệt hại hoặc do bên bị thiệt hại là cơ quan Nhà nước hay là cá nhân.

Cũng sẽ rất khó để quy kết trách nhiệm hình sự cho anh trong trường hợp này vì khi làm việc, anh không được cảnh báo về mức độ quan trọng của dữ liệu. Mặt khác, cơ quan bị mất dữ liệu cũng phải chứng minh được hình ảnh thu từ camera đó là “bí mật Nhà nước” hoặc “bí mật công tác” thì mới có thể xem xét trách nhiệm của anh theo quy định tại Điều 264 hoặc Điều 287 Bộ luật Hình sự về hành vi vô ý làm mất tài liệu bí mật nhà nước hoặc tài liệu bí mật công tác.

Thạc sĩ Phạm Thanh Bình
Công ty Luật Hồng Hà
Số 8 Đình Ngang, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Theo VnExpress