Giải đáp pháp luật

Nhà chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, tôi muốn bán có được không?

(CAO) Hỏi: Năm 1990, tôi có mua một căn nhà 78m2 đã được UBND Quận Gò Vấp cấp "giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (tạm thời)" (còn gọi là “giấy trắng”). Vì không có tiền nên tôi chưa làm thủ tục xin cấp "giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở" (còn gọi là “sổ hồng”). Nay tôi muốn bán căn nhà đó có được không?
(Trần Mạnh Th., ngụ ở Q. Gò Vấp, TPHCM)

Trả lời: Theo Điều 152 của Luật Nhà ở quy định về hiệu lực pháp lý của các giấy chứng nhận về quyền sở hữu đối với nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp trước ngày Luật nhà ở có hiệu lực thi hành (ngày 1-7-2006), giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được cấp trong các thời kỳ trước đây, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đã được cấp theo quy định của pháp luật về đất đai mà trong nội dung đã ghi nhận về nhà ở được xây dựng trên đất ở đó thì nay vẫn còn nguyên giá trị pháp lý và không phải đổi lại, trừ trường hợp chủ sở hữu nhà ở có nhu cầu cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở mới.

Theo các quy định nêu trên, trường hợp của bạn, bạn có thể bán căn nhà của mình cho người khác mà không cần phải làm thủ tục xin cấp "giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở" (còn gọi là “sổ hồng”) trước khi mua bán, chuyển nhượng. Bạn có thể liên hệ các phòng công chứng để được hướng dẫn cụ thể.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Lấy chồng là người nước ngoài, tôi muốn con tôi mang quốc tịch Việt Nam có được không?

(CAO) Hỏi: Tôi vừa lập gia đình với một người có quốc tịch Úc và vợ chồng tôi đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Sau này, khi sinh con, tôi muốn con mình mang quốc tịch Việt Nam có được không?
(Lê Thị Bích Ng., ngụ ở Q.7, TPHCM)

Trả lời: Theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Luật Quốc tịch Việt Nam, trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con. Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam.

Do đó, khi sinh con, bạn có thể thoả thuận với chồng cho con mang Quốc tịch Việt Nam.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Hợp thức hóa nhà xây không phép trong khuôn viên biệt thự

TTO - * Năm 2002, tôi có mua một căn nhà tại khu cư xá Điện lực, P.Trường Thọ, Q.Thủ Đức (TP.HCM) với tình trạng như sau: căn biệt thự chính (chưa có sổ đỏ) là nhà của Nhà nước cấp cho ông Đ. chủ nhà, có số nhà C5A. Ông Đ. dành một phần đất trong khuôn viên xây không phép thêm một căn nhà cấp 3 cho con gái là cô N., số nhà C5B.

Căn nhà của cô N. có kê khai năm 1999, có hộ khẩu tại địa chỉ thường trú. Năm 2002, tôi mua căn nhà C5B của cô N. và cô N. chuyển toàn bộ hộ khẩu từ Thủ Đức về Q.1 (hộ khẩu tại Thủ Đức bị hủy).

Năm 2008, trong quá trình đo vẽ - hóa giá nhà nhà nước, cơ quan thực hiện đo vẽ không thể hiện phần nhà C5B (chỉ thể hiện đất trống). Nay phần đất C5B đã có sổ đỏ nhưng khi tôi làm thủ tục xin số nhà, cấp sổ hồng thì địa chính phường không giải quyết vì:

- Sổ đỏ mới cấp không thể hiện nhà, nhà xây không phép không có giấy tờ chứng minh.

- Quyết định cấp số nhà cũ (C5B) không còn.

Xin tư vấn giúp:

1. Trường hợp của tôi như vậy có làm được thủ tục cấp số nhà mới, cấp sổ hồng? Các giấy tờ liên quan cần thiết? Cơ quan thụ lý, giải quyết?

2. Nếu chủ cũ không cho mượn hay hỗ trợ chứng nhận nguồn gốc nhà cũ thì phải đề nghị cơ quan nào giải quyết?

3. Trường hợp cần thuê mướn luật sư làm dịch vụ thì chi phí như thế nào? Có thể liên hệ ở đâu để đảm bảo?

dang nghia truong

- Luật sư Phạm Đình Sơn trả lời:

1/ Về việc cấp giấy chứng nhận:

Theo thư trình bày, căn nhà trước đây mang số C5B được ông Đ. xây dựng không phép, không rõ năm nào, trên phần nhà đất có số C5A, loại nhà biệt thự, thuộc sở hữu nhà nước. Sau đó, ông Đ. cho con gái là cô N.. Năm 2002, cô N. bán lại phần nhà có số C5B cho ông. Năm 2008, ông Đ. mua hóa giá toàn bộ căn nhà nêu trên của Nhà nước, tại giấy chứng nhận không thể hiện căn nhà C5B.

Như vậy, toàn bộ khuôn viên đất của căn nhà C5A trong đó có nhà C5B thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Đ.. Về nguyên tắc, khi Nhà nước cấp giấy chứng nhận cho ai là nhằm bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người được cấp. Do đó, phần nhà đất có căn nhà C5B như ông trình bày không thể tiếp tục cấp giấy chứng nhận cho tên của ông (căn cứ khoản 1, iều 4 Luật số 38/2009/QH12 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản).

2/ Trong trường hợp gia đình ông Đ. không hỗ trợ hay không cộng tác trong việc sang nhượng đất:

Do ông Đ. đã được cấp giấy chứng nhận, nhưng khi bán thì con gái ông Đ. là cô N. bán lại cho ông khi cả hai chưa có giấy chứng nhận, do đó, theo quan điểm của luật sư thì ông Đ. phải lập thủ tục sang nhượng lại phần đất có căn nhà C5B cho cô N., sau đó cô N. lập thủ tục sang nhượng cho ông, hay ông Đ. sang nhượng trực tiếp cho ông, điều này tùy thuộc thỏa thuận của ba bên.

Do chuyển nhượng một phần thửa đất trong khuôn viên đất biệt thự nên phải hội đủ điều kiện về tách thửa được quy định như sau:

Căn cứ điểm a, khoản 1, điều 3 quyết định số 19/2009/QĐ-UBND ngày 25-2-2009 của UBND TP.HCM thì các trường hợp sau đây không được tách thửa:

- Khu vực mà pháp luật quy định phải bảo tồn;

- Các khu vực hiện đang là biệt thự được tiếp tục quản lý theo quy hoạch;

- Đất ở thuộc các dự án đã được Nhà nước giao đất, cấp giấy chứng nhận cho từng nền đất theo quy hoạch được duyệt;

- Đất thuộc khu vực đã được cơ quan cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/500.Trường hợp quy hoạch chi tiết này không còn phù hợp, phải thực hiện điều chỉnh quy hoạch theo quy định của pháp luật trước khi thực hiện tách thửa, việc tách thửa phải đảm bảo đúng theo quy hoạch đã điều chỉnh;

- Trường hợp vị trí nhà, đất thuộc khu vực phải thu hồi theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt và công bố thì không được tách thửa.

Để biết được căn nhà nêu trên có đủ điều kiện tách thửa hay không, ông nên liên hệ Phòng Tài nguyên - môi trường quận Thủ Đức để được cung cấp thông tin về quy hoạch cụ thể căn nhà trên có nằm trong khu vực được tách thửa hay không.

Trong trường hợp căn nhà nêu trên được phép tách thửa thì việc tách thửa phải đáp ứng các điều kiện sau:

Căn cứ điểm b khoản 1, điều 3 quyết định số 19/2009/QĐ-UBND ngày 25-2-2009 của UBND TP.HCM tại khu vực quận Thủ Đức:

- Đối với đất chưa có nhà thì diện tích tối thiểu được tách thửa là 80m2 và chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 5m;

-  Đối với đất có nhà thì diện tích tối thiểu được tách thửa là 50m và chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 4m.

- Đồng thời việc tách thửa phải đảm bảo được hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch và kết nối, đồng bộ với hạ tầng kỹ thuật hiện hữu.

Nếu căn nhà trên thuộc trường hợp không được tách thửa hay thuộc trường hợp được phép tách thửa và đủ các điều kiện về tách thửa, mà hai bên không tự thương lượng để giải quyết được do bên bán không muốn bán nữa hay không thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến việc mua bán nhà…, thì ông có thể yêu cầu tòa án nơi căn nhà tọa lạc để giải quyết.

Nếu bản án có hiệu lực pháp luật công nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho phần đất nêu trên, thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ căn cứ vào bản án này để cấp giấy chứng nhận cho ông.

Nếu bản án không công nhận thì sẽ giải quyết hậu quả của việc mua bán nhà vào năm 2002 theo quy định của pháp luật. Theo đó, sẽ căn cứ vào lỗi của các bên để giải quyết việc bồi thường cho bên bị thiệt hại nếu hợp đồng mua bán nhà bị tòa tuyên là vô hiệu (căn cứ tiểu mục 2.4, mục 2, phần I nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16-4-2003 của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).

3/ Về việc thuê luật sư tư vấn:

Căn cứ khoản 1 điều 55 Luật luật sư quy định mức thù lao được tính dựa trên các căn cứ sau đây:

a/ Nội dung, tính chất của dịch vụ pháp lý;

b/Thời gian và công sức của luật sư sử dụng để thực hiện dịch vụ pháp lý;

c/ Kinh nghiệm và uy tín của luật sư.

Căn cứ khoản 2, điều 55 Luật luật sư quy định, thù lao được tính theo phương thức sau đây:

a/ Giờ làm việc của luật sư;

b/ Vụ, việc với mức thù lao trọn gói;

c/ Vụ, việc với mức thù lao tính theo tỉ lệ phần trăm của giá ngạch vụ kiện hoặc giá trị hợp đồng, giá trị dự án;

d/ Hợp đồng dài hạn với mức thù lao cố định.

Do có nhiều cách tính thù lao luật sư dựa trên các căn cứ khác nhau, vì vậy ông cần trực tiếp đến một văn phòng luật sư cụ thể, nếu nơi đây đồng ý nhận thực hiện công việc do ông yêu cầu thì văn phòng luật sư sẽ tính thù lao dựa trên các quy định nêu trên.

Căn cứ khoản 1, khoản 2 , điều 40, Luật luật sư thì tổ chức hành nghề luật sư có nghĩa vụ hoạt động đúng lĩnh vực hành nghề ghi trong giấy đăng ký hoạt động; thực hiện đúng nội dung đã giao kết với khách hàng. Do đó, về nguyên tắc, bản thân luật sư và tổ chức hành nghề luật sư khi hành nghề có nghĩa vụ thực hiện đúng với những gì mà mình đã cam kết với khách hàng theo quy định của pháp luật.

Ông có thể tìm kiếm và lựa chọn bất cứ tổ chức hành nghề luật sư nào mà ông tin tưởng.

Trân trọng

Luật sư PHẠM ĐÌNH SƠN
(Công ty luật TNHH Quốc An)

 

Có thể làm hộ chiếu qua mạng?

TTO - * Tôi có hộ khẩu thường trú ở Quy Nhơn, đang làm việc ở tỉnh khác, muốn làm hộ chiếu đi công tác nhưng chưa có thời gian về quê. Tôi có thể làm hộ chiếu qua mạng được không? Nếu có, vui lòng cho biết thủ tục đăng ký, hồ sơ và lệ phí?

(Nguyen Thao)

- Hiện nay ở Việt Nam chưa triển khai dịch vụ cấp hộ chiếu qua mạng. Tuy nhiên, theo quy định tại điều 15 nghị định 136/2007/NÐ-CP của Chính phủ ngày 18-7-2007 quy định về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam (NÐ 136/2007/NÐ-CP) và thông tư số 27/2007/TT-BCA (A11) ngày 29-11-2007 của Bộ Công an hướng dẫn cấp, sửa đổi hộ chiếu phổ thông ở trong nước (TT 27/2007/TT-BCA), bạn có thể:

(1) Trực tiếp nộp hồ sơ và nhận kết quả tại phòng quản lý xuất nhập cảnh - công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi thường trú hoặc nơi đang tạm trú. Hồ sơ đề nghị cấp hộ chiếu được quy định tại điều 15 NÐ 136/2007/NÐ-CP và Mục I TT 27/2007/TT-BCA gồm:

- Một tờ khai theo mẫu quy định;

- 4 ảnh mới chụp, cỡ 4 x 6 cm, mặt thẳng, đầu để trần, phông nền màu trắng.

Người đủ 14 tuổi trở lên khi nộp hồ sơ phải xuất trình CMND còn giá trị, tờ khai không cần xác nhận của công an xã, phường nơi bạn đăng ký thường trú hay tạm trú.

(2) Gửi hồ sơ qua đường bưu điện đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi thường trú và đề nghị được nhận kết quả qua đường bưu điện. Việc gửi hồ sơ và nhận kết quả qua đường bưu điện thực hiện theo thủ tục do Bộ Công an và Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam quy định. Hồ sơ đề nghị cấp hộ chiếu được quy định tại điều 15 NÐ 136/2007/NÐ-CP và Mục I TT 27/2007/TT-BCA gồm:

- Tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu phổ thông theo mẫu quy định, có xác nhận của trưởng công an phường, xã nơi đăng ký thường trú, tạm trú xác nhận và đóng dấu giáp lai ảnh;

- 4 ảnh mới chụp, cỡ 4 x 6 cm, mặt thẳng, đầu để trần, phông nền màu trắng.

- Bản photocopy giấy CMND còn giá trị.

Ðịa điểm, cách thức gửi hồ sơ, lệ phí hộ chiếu và nhận kết quả qua đường bưu điện thực hiện theo hướng dẫn của Tập đoàn Bưu chính viễn thông.

Tuy nhiên, để thuận tiện, bạn nên liên hệ trước với phòng quản lý xuất nhập cảnh - công an tỉnh/thành nơi bạn đăng ký hộ khẩu thường trú/tạm trú để được hướng dẫn cụ thể.

Luật sư VÕ HOÀNG TUYÊN
(Văn phòng luật sư Tuyên & Associates)

 

Khi ly hôn, tôi có quyền nuôi con không?

(CAO) Hỏi: Vợ chồng tôi có hai đứa con (một đứa 8 tuổi và đứa 12 tuổi). Nay chúng tôi đang nhờ tòa án xét xử việc ly hôn của vợ chồng tôi, nhưng không biết tòa có cho tôi được quyền nuôi con hay không?


(Nguyễn Văn L., huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang)

Trả lời: Theo quy định tại Điều 92 của Luật Hôn nhân và gia đình, sau khi ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ chín tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác.

Ngoài ra, Điều 94 - Luật Hôn nhân và gia đình cũng quy định: Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Như vậy, khi ly hôn bạn cũng có quyền nuôi con. Trước hết, bạn có thể thỏa thuận với vợ bạn về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; nếu không thỏa thuận được thì nhờ Tòa án giải quyết.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Tôi muốn làm thủ tục nhận con ngoài giá thú, cơ quan nào giải quyết?

(CAO) Hỏi: Tôi có một đứa con ngoài giá thú. Nay tôi muốn làm thủ tục nhận con có được không? Cơ quan nào có thẩm quyền cho đăng ký nhận con?


(Đinh Th., ngụ ở Q.5, TPHCM)

Trả lời: Theo Điều 32 - Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27-12-2005 của Chính Phủ “về đăng ký và quản lý hộ tịch”, việc nhận cha, mẹ, con được thực hiện, nếu bên nhận, bên được nhận là cha, mẹ, con còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha, mẹ, con và việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp.

Người con đã thành niên hoặc người giám hộ của người con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự cũng được làm thủ tục nhận cha, mẹ, trong trường hợp cha, mẹ đã chết; nếu việc nhận cha, mẹ là tự nguyện và không có tranh chấp.

Về thủ tục đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, theo quy định tại Điều 34 của Nghị đình 158/2005/NĐ-CP, người nhận cha, mẹ, con phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định). Trong trường hợp cha hoặc mẹ nhận con chưa thành niên, thì phải có sự đồng ý của người hiện đang là mẹ hoặc cha, trừ trường hợp người đó đã chết, mất tích, mất năng lực hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Kèm theo Tờ khai phải xuất trình các giấy tờ sau đây:

a) Giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao) của người con;

b) Các giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con (nếu có).

Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng sự thật và không có tranh chấp, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký việc nhận cha, mẹ, con. Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày.

Khi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, các bên cha, mẹ, con phải có mặt, trừ trường hợp người được nhận là cha hoặc mẹ đã chết. Cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký việc nhận cha, mẹ, con và Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Bản sao Quyết định được cấp theo yêu cầu của các bên.

Theo cáo quy định nêu trên, bạn có thể liên hệ với UBND cấp xã, phường để được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Con nuôi có được hưởng thừa kế như con đẻ hay không?

(CAO) Hỏi: Năm 1998, tôi được vợ chồng ông A. nhận làm con nuôi khi tôi vừa tròn 12 tuổi và có đăng ký vào sổ hộ tịch của UBND phường. Nay, cha mẹ nuôi của tôi đều đã qua đời nhưng không có để lại di chúc thì tôi có được thừa kế tài sản của cha mẹ nuôi như con đẻ hay không?


(Lê Đăng Kh., ngụ ở Q.9, TPHCM)

Trả lời: Theo quy định tại khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo ba hàng thừa kế sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Như vậy, bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên được thừa kế tài sản của cha mẹ nuôi để lại.

Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể được nhận làm con nuôi. Khoản 1 Điều 68 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Người được nhận làm con nuôi phải là người từ mười lăm tuổi trở xuống. Người trên mười lăm tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu là thương binh, người tàn tật, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc làm con nuôi của người già yếu cô đơn.

Ngoài ra, Điều 72 - Luật Hôn nhân và gia đình cũng quy định: Việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký và ghi vào Sổ hộ tịch. Thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi, giao nhận con nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Như vậy, nếu bạn được nhận làm con nuôi từ khi bạn 12 tuổi và có đăng ký vào sổ hộ tịch, theo đúng thủ tục do pháp luật quy định thì bạn sẽ được quyền thừa kế tài sản của cha mẹ nuôi để lại, bình đẳng với các con đẻ.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Trách nhiệm nộp hồ sơ khai thuế TNDN của doanh nghiệp

Hỏi:

DN có trách nhiệm nộp hồ sơ khai thuế TNDN như thế nào ?

Trả lời:

DN nộp hồ sơ khai thuế TNDN cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp. Trường hợp DN có đơn vị trực thuộc hạch toán độc lập thì đơn vị trực thuộc nộp hồ sơ khai thuế TNDN phát sinh tại đơn vị trực thuộc cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp đơn vị trực thuộc.

Trường hợp DN có đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán phụ thuộc thì đơn vị trực thuộc đó không phải nộp hồ sơ khai thuế TNDN; DN có trách nhiệm khai tập trung tại trụ sở chính.

Đối với các tập đoàn kinh tế, các TCty có đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc nếu đã hạch toán được doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế thì đơn vị thành viên phải kê khai nộp thuế TNDN với cơ quan thuế quản lý trực tiếp đơn vị thành viên.

Trường hợp đơn vị thành viên có hoạt động kinh doanh khác với hoạt động kinh doanh chung của tập đoàn, TCty và hạch toán riêng được thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác đó thì đơn vị thành viên khai thuế TNDN với cơ quan thuế quản lý trực tiếp đơn vị thành viên.

Trường hợp cần áp dụng khai thuế khác với hướng dẫn tại điểm này thì tập đoàn kinh tế, TCty phải báo cáo với Bộ Tài chính để có hướng dẫn riêng.

DN nộp hồ sơ khai thuế TNDN đối với thu nhập từ hoạt động chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất cho chi cục thuế quản lý địa phương nơi có đất chuyển quyền.

VTCA (theo dddnOnline)

 

Muốn thay đổi tên cho con có được không?

(CAO) Hỏi: Trước đây, tôi có làm giấy khai sinh cho con tôi. Do không để ý nên tôi đã đặt tên con tôi trùng với tên cậu ruột của nó. Nay con tôi được 10 tuổi, nhưng trong thời gian qua, tôi thấy con tôi sử dụng tên đó thường gây nhầm lẫn tên của cậu nó, nên tôi muốn đổi sang tên khác cho con tôi có được không? Khi đổi sang tên mới thì các giao dịch của con tôi theo tên cũ có bị mất không? Hồ sơ xin đổi tên bao gồm những giấy tờ gì?


(Một bạn đọc ở quận Tân Phú, TPHCM)

Trả lời: Theo Điều 27 - Bộ luật dân sự, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên khi việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó.

Việc thay đổi họ, tên cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.

Việc thay đổi họ, tên của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo họ, tên cũ.

Về thẩm quyền thay đổi, cải chính hộ tịch, khoản 2 Điều 37 của Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27-12-2005 của Chính Phủ “về đăng ký và quản lý hộ tịch” quy định: Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi đã đăng ký khai sinh trước đây có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi và bổ sung hộ tịch cho mọi trường hợp, không phân biệt độ tuổi;

Ngoài ra, khoản 1 và khoản 2 Điều 38 - Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27-12-2005 của Chính Phủ “về đăng ký và quản lý hộ tịch” cũng quy định: Người yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch phải nộp tờ khai (theo mẫu quy định), xuất trình bản chính Giấy khai sinh của người cần thay đổi, cải chính hộ tịch và các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc thay đổi, cải chính hộ tịch. Đối với việc thay đổi họ, tên cho người từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải có sự đồng ý của người đó.

Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu việc thay đổi, cải chính hộ tịch có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch và quyết định cho phép thay đổi, cải chính hộ tịch. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho đương sự một bản chính Quyết định cho phép thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính. Bản sao Quyết định được cấp theo yêu cầu của đương sự. Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày.

Nội dung và căn cứ thay đổi, cải chính hộ tịch phải được ghi chú vào cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh và mặt sau của bản chính Giấy khai sinh.

Theo như bạn trình bày, hiện con bạn đã 10 tuổi nên muốn thay đổi tên phải có sự đồng ý của con bạn. Do đó, bạn có thể liên hệ với UBND cấp xã nơi bạn đã đăng ký khai sinh cho con bạn trước đây để được xem xét giải quyết. Khi thay đổi tên thì các giao dịch của con bạn theo tên cũ vẫn không thay đổi.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Chỉ có chồng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì có được coi là tài sản chung không?

(CAO) Hỏi: Sau hơn 15 năm chung sống với nhau, vợ chồng tôi có mua được hai thửa đất nhưng chỉ có một mình chồng tôi đứng tên. Nếu chúng tôi ly hôn thì hai thửa đất đó có được coi là tài sản chung không?

(Lê Hồng Th., huyện Hóc Môn, TPHCM)

Trả lời: Theo Điều 27 - Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.

Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 5 của Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 3-10-2001 của Chính phủ “quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình”, các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng khi đăng ký quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ và chồng theo quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình bao gồm: nhà ở, quyền sử dụng đất và những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu.

Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng đã đăng ký quyền sở hữu trước ngày Nghị định này có hiệu lực (ngày 18-10-2001) mà chỉ ghi tên của một bên vợ hoặc chồng, thì vợ chồng có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp lại giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản đó để ghi tên của cả vợ và chồng; nếu vợ chồng không yêu cầu cấp lại giấy tờ đăng ký quyền sở hữu tài sản, thì tài sản đó vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng; nếu có tranh chấp, bên nào cho đó là tài sản thuộc sở hữu riêng của mình, thì có nghĩa vụ chứng minh.

Như vậy, nếu vợ chồng bạn ly hôn thì hai thửa đất do vợ chồng bạn mua được coi là tài sản chung của hai vợ chồng.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI