Giải đáp pháp luật

Bị kiện ra tòa thì có đi xuất cảnh được không?

(CAO) Hỏi: Tôi có cho ông H. mượn 700 triệu đồng (có giấy mượn nợ) và hẹn đến ngày 15-8-2009 trả hết số tiền nợ. Đến hẹn, tôi đến nhà đòi tiền thì ông H. trả lời không có tiền vì làm ăn thua lỗ. Nay nghe nói ông H. chuẩn bị đi nước ngoài, tôi phải làm sao để buộc ông H. trả tiền cho tôi và ngăn chặn không cho ông H. xuất cảnh? Nếu bị kiện ra tòa, thì ông H. có được xuất cảnh hay không?

(Nguyễn Văn M., ngụ ở Q.8, TPHCM)

Trả lời: Theo Điều 161 - Bộ luật Tố tụng dân sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Bạn có thể nộp đơn khởi kiện đòi nợ tại toà án mà ông H. đang cư trú hoặc đang làm việc để nhờ xem xét giải quyết.

Sau khi được Tòa án thụ lý vụ kiện, bạn có quyền đề nghị Toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không cho ông H. xuất cảnh trong thời gian chờ giải quyết vụ kiện. Theo quy định tại Điều 21 của Nghị định 136/2007/NĐ-CP ngày 17-8-2007 “về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam” cũng nêu rõ: Công dân Việt Nam ở trong nước chưa được xuất cảnh nếu đang chờ để giải quyết tranh chấp về dân sự, kinh tế.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Mua hoá giá nhà của Nhà nước, có phải đóng tiền sử dụng đất không?

(CAO) Hỏi: Năm 2009, tôi được Công ty quản lý nhà cho mua hoá giá một căn nhà của Nhà nước. Vậy, khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, tôi có đóng tiền sử dụng đất hay không?


(Nguyễn Văn B., ngụ ở Q.10, TPHCM)

Trả lời: Căn cứ điểm b khoản 2 Mục 3 Thông tư 117/2004/TT-BTC ngµy 7-12-2004 của Bộ Tài Chính “Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3-12-2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất”, trường hợp mua thanh lý, hoá giá nhà ở (mua nhà ở) gắn liền với đất ở của các doanh nghiệp Nhà nước, hợp tác xã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm mua nhà gắn liền với đất sẽ không phải đóng tiền sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận.

Theo thư bạn trình bày, trường hợp của bạn không phải đóng tiền sử dụng đất khi được mua hoá giá nhà của Nhà nước mà chỉ đóng tiền mua hóa giá nhà và lệ phí trước bạ.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Nhà chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, tôi muốn bán có được không?

(CAO) Hỏi: Năm 1990, tôi có mua một căn nhà 78m2 đã được UBND Quận Gò Vấp cấp "giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (tạm thời)" (còn gọi là “giấy trắng”). Vì không có tiền nên tôi chưa làm thủ tục xin cấp "giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở" (còn gọi là “sổ hồng”). Nay tôi muốn bán căn nhà đó có được không?


(Trần Mạnh Th., ngụ ở Q. Gò Vấp, TPHCM)

Trả lời: Theo Điều 152 của Luật Nhà ở quy định về hiệu lực pháp lý của các giấy chứng nhận về quyền sở hữu đối với nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp trước ngày Luật nhà ở có hiệu lực thi hành (ngày 1-7-2006), giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã được cấp trong các thời kỳ trước đây, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đã được cấp theo quy định của pháp luật về đất đai mà trong nội dung đã ghi nhận về nhà ở được xây dựng trên đất ở đó thì nay vẫn còn nguyên giá trị pháp lý và không phải đổi lại, trừ trường hợp chủ sở hữu nhà ở có nhu cầu cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở mới.

Theo các quy định nêu trên, trường hợp của bạn, bạn có thể bán căn nhà của mình cho người khác mà không cần phải làm thủ tục xin cấp "giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở" (còn gọi là “sổ hồng”) trước khi mua bán, chuyển nhượng. Bạn có thể liên hệ các phòng công chứng để được hướng dẫn cụ thể.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Chuyển quyền sử dụng đất lúa nước

TTO - * Cậu tôi trước đây có mua một mảnh đất, tách ra từ mảnh ruộng lớn. Vừa rồi cậu tôi đã làm được sổ đỏ. Trong giấy tờ vẫn ghi là đất lúa nước (LUK), nhưng thực sự mảnh đất đó đã nằm lọt trong khu vực dân cư, xung quanh đó đã có nhà cửa hợp lệ, cậu tôi cũng đã có giấy xác nhận của UBND phường cho biết đất nằm trong khu dân cư.

Hiện tôi muốn mua lại mảnh đất đó và sẽ tự đóng thuế chuyển sang đất thổ cư, nhưng khi lên Phòng công chứng số 4, công chứng viên nói là không công chứng trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất lúa nước được, dù tôi đã có xác nhận của UBND phường và cam kết sẽ sử dụng đúng mục đích.

Tôi muốn biết, tôi phải làm thế nào để chuyển quyền sử dụng đất trong trường hợp này, vì tôi không phải là người canh tác nông nghiệp? Xin cảm ơn.

Trí Minh (websoftup@... )

- Trả lời của Luật sư Huỳnh Văn Nông:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 103 Nghị định 181/2004/NĐ-CP thì: “Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa nước”. Vì thế, trong trường hợp bạn không phải là người trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì bạn không thể nhận chuyển nhượng mảnh đất chuyên trồng lúa nước.

Pháp luật hiện hành không có quy định như thế nào là trực tiếp sản xuất nông nghiệp, theo tôi thì người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp (trồng lúa nước, cây lâu năm ….) và người trực tiếp nuôi trồng thủy sản hay chăn nuôi đều có thể được xem là người trực tiếp sản xuất nông nghiệp.

Theo như thông tin của bạn, thì mảnh đất này đang nằm trong khu dân cư (có Giấy xác nhận của UBND phường), tôi hiểu rằng mảnh đất này đang thuộc quy hoạch khu dân cư, và việc chuyển mục đích sử dụng của mảnh đất này sang đất ở là phù hợp với quy hoạch sử dụng đất.

Trong trường hợp này, để được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với mảnh đất nói trên, trước tiên, cậu của bạn phải thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở. Hồ sơ bao gồm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Đơn xin chuyển mục đích sử dụng đất - điểm b khoản 1 Điều 125 Luật Đất đai, nộp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.

Việc thu tiền sử dụng đất lúc này sẽ được tính bằng mức chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp (điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định 198/2004/NĐ-CP).

Sau khi đã thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất, bạn và cậu của bạn có thể tiến hành thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đối với mảnh đất nói trên mà không bị hạn chế gì về nghề nghiệp và nơi cứ trú.

Thân ái chào bạn.

Luật sư HUỲNH VĂN NÔNG

 

Mua bán đất thừa kế

TTO - * Tôi muốn mua 1 lô đất tại xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, TP.HCM, diện tích 167m2 (10x16,7m). Đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã tách thửa riêng, mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm và thời hạn sử dụng đến 2055.

Gia đình người bán đất có hai vợ chồng và con trai. Đất do người vợ đứng tên nhưng hiện đã chết, người cha và con trai đang đứng bán. Họ nói khi bán họ sẽ bao sang tên. Tôi muốn hỏi với tình trạng miếng đất như trên tôi có thể mua được không? Nếu mua thì cần làm thêm những thủ tục gì để có thể xây nhà ở?

Tôi chỉ có giấy KT3 thì có được đứng tên trên giấy chứng nhận QSDĐ khi mua? Khi chuyển QSDĐ, tôi cần phải làm những thủ tục giấy tờ gì? Thời gian khoảng bao lâu? Nếu chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở để xây nhà tại thời điểm này thì phải đóng phí bao nhiêu? Quy định chuyển lên diện tích đất ở tối thiểu là bao nhiêu m2 (tôi không cần thiết phải chuyển hết)?

Hiện nay người đang đứng tên trên giấy chứng nhận QSDĐ đã chết, vậy người chồng và người con có bán được đất và chuyển QSDĐ cho tôi? Nếu được thì tôi cần phải làm những giấy tờ gì để tránh tranh chấp và rắc rối về sau? Giấy chứng nhận QSDĐ với sổ đỏ là giống nhau hay khác nhau?

Hien-gmail

- Trả lời:

1. Điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất:

Theo quy định, người sử dụng đất được thực hiện các quyền về chuyển đổi, chuyển nhượng,  cho thuê quyền sử dụng đất... khi có các điều kiện sau:

• Có giấy chứng nhận QSDĐ

• Đất không tranh chấp

• QSDĐ không bị kê biên để bảo đảm thi hành án

• Trong thời hạn sử dụng đất

(Điều 106 Luật đất đai).

Hơn nữa, việc mua bán đất phải được lập thành hợp đồng. Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ phải được công chứng hoặc chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Để thực hiện việc mua bán đất theo đúng trình tự, thủ tục này, nhất thiết phải có giấy chứng nhận QSSĐ.

Theo thư bạn nêu, hiện giấy chứng nhận QSDĐ vẫn mang tên người đã chết, người chồng và con của người chết chưa được Nhà nước thừa nhận QSDĐ.

Do đó, để tránh vi phạm pháp luật và những rủi ro pháp lý có thể xảy ra với bạn khi mua bán đất bằng giấy tay, bạn nên nhận chuyển nhượng thửa đất sau khi những người thừa kế đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ (nếu người chồng và người con của người đã chết là người được thừa kế đối với QSDĐ nói trên).

Trường hợp có nhiều đồng thừa kế khác, tất cả các đồng thừa kế này đều thống nhất trong việc chuyển nhượng thửa đất cho bạn. Khi đó, bạn có thể đặt cọc một khoản tiền để đảm bảo cho việc bên mua và bên bán sẽ ký kết hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ có công chứng hoặc chứng thực sau khi những người thừa kế đã hoàn tất thủ tục thừa kế QSDĐ và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng.

Trong hợp đồng đặt cọc nên có những điều khoản cụ thể về thời gian để bên nhận cọc hoàn tất việc hợp thức hóa QSDĐ, về thời gian tiến hành ký kết hợp đồng mua bán sau khi bên nhận cọc đã được cấp giấy chứng nhận...

2. Điều kiện về hộ khẩu khi nhận chuyển nhượng QSDĐ:

Theo quy định tại nghị định số 181 ngày 29-10-2004 (khoản 3 điều 99), vấn đề hộ khẩu sẽ được không đặt ra trong trường hợp nhận chuyển nhượng QSDĐ của bạn. Theo đó, việc cấp cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho bạn cũng không phụ thuộc điều kiện về nơi đăng ký hộ khẩu của bạn.

3. Điều kiện về diện tích đất ở tối thiểu được xây dựng nhà ở:

Để được xây dựng nhà ở, phải chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở và xin phép xây dựng. Việc chuyển mục đích sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương.

Theo quy chuẩn xây dựng Việt Nam ban hành theo quyết định số 04 ngày 3-4-2008 của Bộ Xây dựng, kích thước lô đất xây dựng nhà ở được xác định như sau:

• Khi lô đất tiếp giáp với đường phố có lộ giới ≥20m, phải đảm bảo các yêu cầu về kích thước tối thiểu như sau:

+ Diện tích của lô đất xây dựng nhà ở gia đình ≥45m2

+ Bề rộng của lô đất xây dựng nhà ở ≥5m

+ Chiều sâu của lô đất xây dựng nhà ở ≥5m

• Khi lô đất tiếp giáp với đường phố có lộ giới <20m, phải  đảm bảo các yêu cầu về kích thước tối thiểu như sau:

+ Diện tích của lô đất xây dựng nhà ở gia đình ≥36m2

+ Bề rộng của lô đất xây dựng nhà ở ≥4m

+ Chiều sâu của lô đất xây dựng nhà ở ≥4m

Theo quy định trên và nhu cầu sử dụng, bạn có thể xác định diện tích đất để xin chuyển mục đích sử dụng sang đất ở.

Bạn nên liên hệ trực tiếp với UBND huyện Củ Chi để nắm rõ thông tin về quy hoạch sử dụng đất và được hướng dẫn cụ thể về việc chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện đúng quy định.

4. Quy định về giấy chứng nhận QSDĐ và sổ đỏ

Theo quy định, igấy chứng nhận QSDĐ do Bộ Tài nguyên - môi trường phát hành theo một mẫu thống nhất và được áp dụng trong phạm vi cả nước đối với mọi loại đất.

Giấy chứng nhận QSDĐ là một tờ có bốn  trang, mỗi trang có kích thước 190x265mm. Đối với bản cấp cho người sử dụng thì trang bìa có màu đỏ, chính vì vậy giấy chứng nhận QSDĐ được gọi nôm na là sổ đỏ.

Trân trọng.

Luật sư ĐOÀN THỊ NGỌC LINH
(VPLS Lê Nguyễn)

 

Di chúc bị thất lạc thì giải quyết thế nào?

Khi mẹ tôi qua đời, một người con cho biết bà có làm di chúc. Nhưng hiện giờ mọi người không biết bản di chúc đó ở đâu? nội dung thế nào? được lập khi nào? (Minh Khuê)

Tôi muốn hỏi, làm thế nào để biết chắc rằng mẹ có làm di chúc. Thủ tục hồ sơ thế nào để các con có được di chúc đó và thực hiện ước nguyện người đã mất. Mong nhận được tư vấn của các bạn.

Luật sư Nông Thị Hồng Hà cho biết: Di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập và cũng không có bằng chứng chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc. Việc chia thừa kế được áp dụng theo pháp luật.

Theo quy định tại Điều 665 và Điều 672 Bộ luật Dân sự thì người lập di chúc có thể yêu cầu cơ quan công chứng lưu giữ hoặc gửi người khác giữ bản di chúc. Thông thường thì người giữ di chúc là người được chỉ định công bố di chúc. Nếu di chúc bằng văn bản được lưu giữ tại cơ quan công chứng thì công chứng viên là người công bố di chúc; trong trường hợp người để lại di chúc chỉ định người công bố di chúc thì người này có nghĩa vụ công bố di chúc; nếu người để lại di chúc không chỉ định hoặc có chỉ định nhưng người được chỉ định từ chối công bố di chúc thì những người thừa kế còn lại thỏa thuận cử người công bố di chúc.

Trong trường hợp người để lại di chúc mất đã lâu mà không có người công bố di chúc hoặc không tìm thấy di chúc, không biết di chúc do ai lưu giữ thì giải quyết theo quy định tại Điều 666 Bộ luật Dân sự. Theo điều luật này, "Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật. Trong trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc”.

Theo các quy định vừa viện dẫn, nếu cô bạn có lập di chúc nhưng không thể tìm thấy di chúc, không biết di chúc lưu giữ ở đâu thì được coi như không có di chúc và di sản của cô bạn sẽ được chia theo pháp luật. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự:

- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau.

Luật sư Nông Thị Hồng Hà
Công ty Luật Hồng Hà
Số 8 Đình Ngang, Hoàn Kiếm, Hà Nội
Theo VnExpress

 

Có thể làm hộ chiếu qua mạng?

TTO - * Tôi có hộ khẩu thường trú ở Quy Nhơn, đang làm việc ở tỉnh khác, muốn làm hộ chiếu đi công tác nhưng chưa có thời gian về quê. Tôi có thể làm hộ chiếu qua mạng được không? Nếu có, vui lòng cho biết thủ tục đăng ký, hồ sơ và lệ phí?

(Nguyen Thao)

- Hiện nay ở Việt Nam chưa triển khai dịch vụ cấp hộ chiếu qua mạng. Tuy nhiên, theo quy định tại điều 15 nghị định 136/2007/NÐ-CP của Chính phủ ngày 18-7-2007 quy định về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam (NÐ 136/2007/NÐ-CP) và thông tư số 27/2007/TT-BCA (A11) ngày 29-11-2007 của Bộ Công an hướng dẫn cấp, sửa đổi hộ chiếu phổ thông ở trong nước (TT 27/2007/TT-BCA), bạn có thể:

(1) Trực tiếp nộp hồ sơ và nhận kết quả tại phòng quản lý xuất nhập cảnh - công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi thường trú hoặc nơi đang tạm trú. Hồ sơ đề nghị cấp hộ chiếu được quy định tại điều 15 NÐ 136/2007/NÐ-CP và Mục I TT 27/2007/TT-BCA gồm:

- Một tờ khai theo mẫu quy định;

- 4 ảnh mới chụp, cỡ 4 x 6 cm, mặt thẳng, đầu để trần, phông nền màu trắng.

Người đủ 14 tuổi trở lên khi nộp hồ sơ phải xuất trình CMND còn giá trị, tờ khai không cần xác nhận của công an xã, phường nơi bạn đăng ký thường trú hay tạm trú.

(2) Gửi hồ sơ qua đường bưu điện đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi thường trú và đề nghị được nhận kết quả qua đường bưu điện. Việc gửi hồ sơ và nhận kết quả qua đường bưu điện thực hiện theo thủ tục do Bộ Công an và Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam quy định. Hồ sơ đề nghị cấp hộ chiếu được quy định tại điều 15 NÐ 136/2007/NÐ-CP và Mục I TT 27/2007/TT-BCA gồm:

- Tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu phổ thông theo mẫu quy định, có xác nhận của trưởng công an phường, xã nơi đăng ký thường trú, tạm trú xác nhận và đóng dấu giáp lai ảnh;

- 4 ảnh mới chụp, cỡ 4 x 6 cm, mặt thẳng, đầu để trần, phông nền màu trắng.

- Bản photocopy giấy CMND còn giá trị.

Ðịa điểm, cách thức gửi hồ sơ, lệ phí hộ chiếu và nhận kết quả qua đường bưu điện thực hiện theo hướng dẫn của Tập đoàn Bưu chính viễn thông.

Tuy nhiên, để thuận tiện, bạn nên liên hệ trước với phòng quản lý xuất nhập cảnh - công an tỉnh/thành nơi bạn đăng ký hộ khẩu thường trú/tạm trú để được hướng dẫn cụ thể.

Luật sư VÕ HOÀNG TUYÊN
(Văn phòng luật sư Tuyên & Associates)

 

Việt kiều về Việt Nam sinh sống muốn đăng ký hộ khẩu thường trú có được không?

(CAO) Hỏi: Năm 2005, tôi được cha của tôi bảo lãnh sang Úc định cư nhưng vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Cuối năm 2006, tôi về lại Việt Nam làm việc và sinh sống dưới hình thức tạm trú từ đó đến nay. Nay tôi muốn đăng ký hộ khẩu thường trú có được không? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết?


(Đỗ Văn Nh., ngụ ở Q.1, TP.HCM)

Trả lời: Theo khoản 1 Điều 20 của Luật Cư trú, điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương là phải có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục tại thành phố đó từ một năm trở lên. Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản.

Ngoài ra, theo quy định tại mục 1 Phần 2 của Thông tư 06/2007/TT-BCA-C11 ngày 1-7-2007 “Hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật cư trú" và Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25-6-2007 của Chính phủ "quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú”, hồ sơ đăng ký thường trú bao gồm:

- Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu;

- Bản khai nhân khẩu;

- Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp.

Đối với trường hợp chỗ ở hợp pháp là nhà ở do thuê, mượn, ở nhờ của của cá nhân hoặc được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình thì người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở của mình hoặc người có sổ hộ khẩu phải ghi rõ ý kiến đồng ý cho đăng ký thường trú vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, ký, ghi rõ họ, tên và ngày, tháng, năm.

Đối với trường hợp có quan hệ gia đình là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh, chị, em ruột, cháu ruột chuyển đến ở với nhau thì không phải xuất trình giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp, nhưng phải xuất trình giấy tờ chứng minh mối quan hệ nêu trên để làm căn cứ ghi vào sổ hộ khẩu.

Ngoài các giấy tờ chung có trong hồ sơ đăng ký thường trú, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về nước sinh sống có một trong các giấy tờ sau:

+ Hộ chiếu Việt Nam hoặc giấy tờ thay hộ chiếu Việt Nam có đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh của lực lượng kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu;

+ Giấy tờ chứng minh còn quốc tịch Việt Nam do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp, kèm theo giấy tờ chứng minh được về Việt Nam thường trú của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

+ Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, kèm theo giấy tờ chứng minh được về nước thường trú của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

* Về nơi nộp hồ sơ đăng ký thường trú, đối với thành phố trực thuộc trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã. Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện, Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

* Về thời hạn để giải quyết hồ sơ đăng ký thường trú, khoản 3 Điều 21 Luật Cư trú cũng quy định. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải cấp sổ hộ khẩu cho người đã nộp hồ sơ đăng ký thường trú; trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Theo thư bạn trình bày, đối chiếu với các quy định nêu trên, trường hợp của bạn sẽ được đăng ký thường trú tại Việt Nam. Bạn có thể liên hệ với công an quận huyện để được xem xét, giải quyết.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Cách thức áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

Hỏi:

Cách thức áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần ?

Trả lời:

Tại Nhật Bản, không có mẫu Giấy chứng nhận cư trú thuế chuẩn và việc cấp Giấy chứng nhận cư trú thuế cho các tổ chức, cá nhân sẽ do Cơ quan thuế địa phương của Nhật Bản thực hiện. Trong số các Giấy chứng nhận cư trú thuế do Cơ quan thuế địa phương của Nhật Bản cấp mà Tổng cục Thuế có được đều ghi rõ năm người nộp thuế là đối tượng cư trú của Nhật Bản, trong đó có Giấy chứng nhận cư trú của Cơ quan thuế Kyobashi cấp. Như vậy, giải thích của Cty TNHH Bảo hiểm Mitsui Sumitomo Insurance (MSI) về việc “Giấy chứng nhận cư trú này là mẫu chuẩn được áp dụng bởi cơ quan thuế Nhật Bản” là không chính xác.

Trường hợp Giấy chứng nhận cư trú của MSI, ngày cấp Giấy chứng nhận cư trú là ngày 1/7/2009 và MSI là một Cty bảo hiểm lớn tại Nhật Bản nên MSI có rất ít khả năng thay đổi thân phận cư trú của mình trong năm 2009. Do đó, để tạo thuận lợi cho Cty, đề nghị Cục Thuế tạm thời chấp nhận Giấy chứng nhận cư trú của MSI để xem xét, xử lý hồ sơ áp dụng Hiệp định thuế của MSI. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện theo đúng hướng dẫn tại Thông tư số 133/2004/TT-BTC ngày 31/12/2004 của Bộ Tài chính và phù hợp với thực tế cấp Giấy chứng nhận cư trú của Cơ quan thuế Nhật Bản, đề nghị Cục Thuế yêu cầu MSI cam kết cung cấp lại bản gốc Giấy chứng nhận cư trú thuế ghi rõ năm đề nghị áp dụng Hiệp định thuế (2009) trong vòng quý 1/2010.

Theo dddnOnline
 

Tách sổ hộ khẩu có cần chứng minh chỗ ở hợp pháp không?

(CAO) Hỏi: Ba anh em tôi đều đã có gia đình riêng, nhưng đều đăng ký thường trú chung trong một sổ hộ khẩu ở quận 2, TP.HCM do người anh cả đứng tên chủ hộ. Nay tôi muốn tách ra làm ba sổ hộ khẩu có được không? Tôi có cần chứng minh chỗ ở hợp pháp của mình không?
(Trần Văn Th., ngụ ở Q.2, TP.HCM)

Trả lời: Theo quy định tại khoản 2 Điều 25 và Điều 27 - Luật Cư trú, nhiều hộ gia đình ở chung một chỗ ở hợp pháp thì mỗi hộ gia đình được cấp một sổ hộ khẩu.

Người xin tách hộ khẩu phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có nhu cầu tách sổ hộ khẩu; Người đã nhập vào sổ hộ khẩu muốn tách ra phải được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản.

Khi tách sổ hộ khẩu, người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu; phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ.

Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải trả kết quả giải quyết việc tách sổ hộ khẩu; trường hợp không giải quyết việc tách sổ hộ khẩu thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Ngoài ra, theo quy định tại điểm đ Mục 5 Phần 2 của Thông tư số 06/2007/TT-BCA-C11 ngày 1-7-2007 của Bộ Công an “Hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Cư trú" và Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25-6-2007 "quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú”, người có nhu cầu tách sổ hộ khẩu quy định tại Điều 27 của Luật Cư trú thì chủ hộ phải ghi vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu đồng ý cho tách sổ hộ khẩu, ký, ghi rõ họ tên và ngày, tháng, năm. Khi tách sổ hộ khẩu không cần xuất trình giấy tờ về chỗ ở hợp pháp.

Như vậy, nếu có nhu cầu tách sổ hộ khẩu thì bạn liên hệ với Công an Quận 2 để được xem xét giải quyết. Tuy nhiên, khi tách sổ hộ khẩu bạn không cần xuất trình giấy tờ chứng minh chỗ ở của mình nhưng phải có ý kiến đồng ý bằng văn bản của người anh cả của bạn.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI