Giải đáp pháp luật

Muốn qua Úc chăm sóc mẹ cần chuẩn bị giấy tờ nào?

TTO - * Tôi hiện sinh sống ở Đà Nẵng, đã có vợ và ba con. Cha mẹ tôi đều trên 70 tuổi, định cư ở Úc từ năm 1991 đến nay. Mẹ tôi mấy năm nay bị bệnh nặng, bệnh viện ở Úc chữa trị nhưng không hồi phục, nay đã xuất viện và chỉ có mình cha tôi săn sóc.

Cha tôi cũng đã già, sức khỏe yếu kém, vì vậy tôi muốn qua Úc để chăm sóc mẹ (ở Úc tôi có một anh trai, một chị gái, đều có gia đình riêng và một em trai trên 30 tuổi, độc thân, nhưng có công việc làm và cũng ở riêng). Xin hỏi tôi cần chuẩn bị giấy tờ nào để xin qua Úc?

(Hồng Hà)

- Về trình tự, thủ tục thị thực nhập cảnh Úc để thăm thân thân có người nhà bảo lãnh (loại thị thực 679) được quy định như sau: từ ngày 2-4-2005, đơn xin thị thực đi thăm Úc theo diện bảo lãnh thân nhân phải do người bảo lãnh nộp hồ sơ bảo lãnh tại Úc.

Đương đơn xin thị thực cần điền đầy đủ vào đơn xin thị thực đi thăm Úc theo diện bảo lãnh thân nhân (mẫu 48S) - và gửi cho người bảo lãnh ở Úc cùng tất cả giấy tờ cần thiết khác.

Người bảo lãnh cần điền đơn xin bảo lãnh thân nhân đi thăm (mẫu đơn 1149) và nộp cả hai đơn 48S và 1149 cùng các giấy tờ cần thiết khác tại các văn phòng của Bộ Nhập cư và Quốc tịch (DIAC) ở tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ của mình. Hồ sơ hoàn chỉnh có thể được nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện.

Các giấy tờ cần nộp để hỗ trợ cho một đơn xin thị thực đi du lịch Úc (những giấy tờ quy định dưới đây chỉ là những giấy tờ tối thiểu, đương đơn có thể nộp thêm bất cứ giấy tờ nào mà họ tin rằng sẽ hỗ trợ cho việc xét hồ sơ xin thị thực):

1. Đơn xin thị thực du lịch (mẫu đơn 48R);

2. Bốn tấm ảnh (4cm x 6cm) cho mỗi đương đơn, ảnh chụp không được quá sáu tháng;

3. Hộ chiếu đã ký tên, không chấp nhận hộ chiếu hết hạn hoặc chưa ký tên;

4. Tờ khai chi tiết về thân nhân;

5. Bản sao công chứng tất cả các trang sổ hộ khẩu hiện tại;

6. Bản sao công chứng giấy khai sinh;

7. Bản gốc sơ yếu lý lịch có xác nhận của chính quyền địa phương. Đối với những đương đơn làm việc tại các cơ quan/ đơn vị của nhà nước thì sơ yếu lý lịch có thể do cơ quan/đơn vị đó chứng nhận. Sơ yếu lý lịch phải được xác nhận không quá sáu tháng.

8. Bằng chứng về tình trạng hôn nhân (ví dụ: quyết định ly hôn, giấy đăng ký kết hôn...);

9. Bằng chứng chứng minh về tài chính của đương đơn đủ để chi trả cho thời gian dự kiến ở tại Úc (ví dụ: bằng chứng về thu nhập của đương đơn ở Việt Nam, bằng chứng về các khoản tiết kiệm gửi ngân hàng...). Đương đơn phải cung cấp bản sao công chứng sổ tiết kiệm và/hoặc các giấy tờ khác về tài chính. Đương đơn lưu ý là giấy chi tiết tiền gửi ngân hàng nộp cùng hồ sơ phải được cấp trong vòng hai tháng (trước ngày nộp hồ sơ);

10. Bằng chứng về sở hữu nhà cửa, đất đai hoặc các tài sản có giá trị lớn khác của đương đơn;

11. Nếu đơn đương đang đi làm, cần cung cấp đầy đủ chi tiết về công việc làm của đương đơn, bao gồm: chức danh, địa chỉ, điện thoại nơi làm việc và một giấy xác nhận của cơ quan về việc đương đơn nghỉ phép;

12. Nếu có trẻ em dưới 18 tuổi cùng đi, cần nộp thư ủy quyền của cả cha/mẹ hoặc của cả hai cha mẹ của trẻ em đó cho phép trẻ em đó đi. Chữ ký của cả hai cha mẹ trên thư phải được chính quyền địa phương xác nhận;

13. Bằng chứng về mối quan hệ với thân nhân của đương đơn với người bảo lãnh tại Úc như bản sao công chứng giấy khai sinh của thân nhân;

14. Bằng chứng cho thấy thân nhân của đương đơn mang quốc tịch Úc hoặc thường trú tại Úc (bản sao công chứng hộ chiếu Úc, giấy khai sinh hoặc hộ chiếu nước ngoài có chứng nhận thường trú tại Úc), hoặc bằng chứng chứng minh tình trạng của thân nhân tại Úc nếu người đó đang tạm trú tại Úc, ví dụ: xác nhận họ đang học tập...

15. Thư mời của thân nhân xác nhận hình thức hỗ trợ mà thân nhân sẽ dành cho đương đơn;

16. Nếu thân nhân hỗ trợ về tài chính trong thời gian đương đơn ở Úc, cần nộp bằng chứng về tài chính của thân nhân như giấy chi tiết tiền gửi ngân hàng hiện tại (không quá hai tháng), chứng nhận việc làm và thu nhập như giấy thông báo thuế do Cơ quan Thuế vụ Úc cấp.

Luật sư TRỊNH VĂN HIỆP
(Văn phòng luật sư Gia Thành)

 

Tài sản chung nhưng đứng tên sở hữu của chồng?

Trong quá trình sống và làm việc chúng tôi đã tích góp tiền bạc mua được một số tài sản chung. Do tôi không có hộ khẩu bên chồng nên không thể cùng anh đứng tên sở hữu. Sau này chúng tôi có ly hôn thì một số tài sản đó được phân chia thế nào? Mong nhận được tư vấn của các bạn. (Ánh Tuyết)

Tôi lấy chồng có đăng ký kết hôn nhưng tôi chưa thể nhập hộ khẩu về bên nhà chồng tôi được vì một số lý do. Hộ khẩu của tôi vẫn ở bên nhà mẹ đẻ.

Xin chân thành cám ơn.

Trả lời:

"Dù bạn chưa nhập hộ khẩu vào bên chồng nhưng những tài sản tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân (kể cả tài sản bạn không đứng tên) vẫn là chung của vợ chồng", luật sư Vũ Tiến Vinh tư vấn cho bạn Ánh Tuyết.

Theo quy định của pháp luật về cư trú thì công dân có quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ đăng ký (hộ khẩu) thường trú hoặc tạm trú tại một địa điểm nhất định để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc quản lý nhà nước về cư trú. Về nguyên tắc, việc đăng ký hộ khẩu không có ý nghĩa trong việc xác định quyền sở hữu tài sản tại địa điểm đăng ký.

Nói cách khác là quyền sở hữu tài sản của một công dân không phụ thuộc vào nơi người đó đăng ký hộ khẩu, một người đăng ký hộ khẩu ở một nơi nhưng có quyền sở hữu đối với nhiều tài sản ở các địa bàn khác nhau.

Do vậy, với quy định trên thì mặc dù bạn chưa nhập hộ khẩu vào bên chồng nhưng những tài sản vợ chồng bạn tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân (kể cả những tài sản mà bạn không đứng tên) vẫn là tài sản chung vợ chồng. Bạn và chồng bạn đều có quyền sở hữu (gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt) ngang nhau đối với số tài sản đó.

Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm: Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thỏa thuận”.

Để hạn chế những tranh chấp không cần thiết trong việc xác định tài sản chung vợ chồng, pháp luật quy định trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng. Nếu khi ly hôn bên nào cho rằng một tài sản nào đó là tài sản riêng thì bên đó phải chứng minh, nếu không chứng minh được thì pháp luật mặc nhiên xác định tài sản đó là tài sản chung vợ chồng.

Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình thì về nguyên tắc khi ly hôn tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, tuy nhiên có xem xét đến hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này.

Khi chia tài sản, tòa án sẽ xem xét đến quyền, lợi ích hợp pháp của người vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Luật sư Vũ Tiến Vinh
Công ty Luật Bảo An

Theo VnExpress

 

Xin visa qua Úc bị từ chối, làm sao?

TTO - * Ba em ở Úc, đã xin bảo lãnh em qua nhưng bị từ chối với lý do em bị gián đoạn việc học (em thi rớt đại học năm 2005, luyện thi từ tháng 9-2005 đến tháng 6-2006 nhưng vẫn rớt nên em tiếp tục ôn thi lại từ tháng 9-2006 đến 6-2007).

Hiện em đang học đại học và lệ thuộc vào tài chính của ba. Trường hợp em phải làm sao?

(Ngoi sao xanh)

- Trường hợp bạn, để được cấp visa định cư Úc, bạn cần:

Hoàn tất bộ hồ sơ hoàn chỉnh, bởi theo Bộ luật Di trú 1958, các hồ sơ xin thị thực có thể được quyết định dựa trên những thông tin đã nộp. Do đó, điều quan trọng là các hồ sơ xin thị thực phải được nộp hoàn chỉnh tối đa và tất cả các giấy tờ hỗ trợ phải được nộp ngay lúc nộp đơn. Những hồ sơ không hoàn chỉnh hoặc có các giấy tờ kém chất lượng có thể bị xét chậm hoặc bị từ chối.

Bạn không được giả mạo hoặc che giấu thông tin: bất kỳ một hình thức giả mạo hoặc che giấu thông tin nào đều có thể dẫn đến việc đơn xin thị thực của bạn bị từ chối. Các đương đơn phải trả lời đầy đủ, thành thật và khai bất kỳ thông tin nào có liên quan đến câu hỏi. Tất cả các chữ ký trên đơn xin thị thực và trong hộ chiếu của đương đơn phải do chính đương đơn ký.

+ Việc chứng thực giấy tờ: tất cả những giấy tờ cá nhân như Giấy khai sinh, Sổ hộ khẩu, Sơ yếu lý lịch (không quá 6 tháng)... phải có công chứng của chính quyền địa phương. "Bản sao có công chứng" là những bản sao được viên chức hoặc cơ quan có thẩm quyền của nhà nước chứng nhận hoặc đóng dấu sao y bản chính.

Ở Việt Nam, UBND cấp xã, UBND cấp huyện được phép chứng nhận sao y bản chính các giấy tờ theo từng cấp độ phù hợp. Bộ phận Lãnh sự thuộc Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc tại Đại sứ quán Úc ở Hà Nội và Tổng lãnh sự quán Úc ở TP.HCM có thể chứng nhận giấy tờ do các cơ quan của Chính phủ Úc và/hoặc các tổ chức khác của Úc cấp, đồng thời xác nhận chữ ký của các công dân và thường trú nhân Úc theo yêu cầu.

Tại Úc, các bản sao có thể được công chứng bởi Thẩm phán địa phương, Cố vấn pháp luật chứng nhận tuyên thệ hoặc người có thẩm quyển xác nhận lời tuyên thệ trước pháp luật theo Bộ luật tuyên thệ 1959 Xin lưu ý. Bản chụp các bản sao công chứng KHÔNG ĐƯỢC chấp nhận.

Việc dịch thuật giấy tờ: những giấy tờ không bằng tiếng Anh cần có bản dịch tiếng Anh đính kèm. Ở Việt Nam, bản dịch phải do các cơ quan được cấp phép dịch thuật thực hiện. Ở Úc, dịch thuật viên phải được Cơ quan Nhà nước có Thẩm quyền cấp phép cho Biên dịch viên và Phiên dịch viên (NAATI) công nhận. Các bằng chứng về mối quan hệ như thư từ trao đổi cá nhân thì không cần dịch.

Luật sư TRỊNH VĂN HIỆP
(Văn phòng luật sư Gia Thành)

 

Chưa sang tên xe bị xử phạt có đúng không?

(CAO) Hỏi: Tôi điều khiển xe gắn máy lưu thông trên đường Điện Biên Phủ (Q.3, TP.HCM) thì bị cảnh sát giao thông yêu cầu dừng xe kiểm tra và lập biên bản phạt tôi 700.000 đồng vì lỗi gắn biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp và chưa sang tên xe. Xin cho biết, công an xử phạt như vậy có đúng không?


(Trần Văn H., ngụ ở Q.Bình Thạnh, TPHCM)

Trả lời: Theo khoản 4 Điều 20 - Nghị định số 146/2007/NĐ-CP ngày 14-9-2007 của Chính Phủ “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ”, lực lượng cảnh sát giao thông có quyền phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi không gắn biển số (nếu có quy định phải gắn biển số); gắn biển số không đúng với số hoặc ký hiệu trong giấy đăng ký; biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp.

Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 34 của Nghị định số 146/2007/NĐ-CP cũng quy định việc xử phạt chủ phương tiện không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.

Đối chiếu với các quy định nêu trên, trường hợp của bạn bị xử phạt như trên là phù hợp với các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nếu cho rằng bạn đã bị xử phạt sai quy định về hành vi hoặc mức xử phạt, thì bạn có quyền khiếu nại về quyết định xử phạt nói trên.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Xác nhận hồ sơ khi chủ đất đã mất

TTO - * Năm 2007 bố mẹ tôi có mua một mảnh đất 46m2 ở xã Tân Triều, Thanh Trì, Hà Nội. Đây là mảnh đất vườn nằm trong tổng diện tích 200m2 của nhà bà H. (đã được cấp sổ đỏ đứng tên bà H. - bà H. là vợ hai nên trong sổ hộ khẩu gia đình không có tên người chồng).

Lúc đó hai bên đã ra UBND xã Tân Triều lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo mẫu của xã và chủ tịch xã ký xác nhận, địa chính xã cũng đã đến đo đạc, có biên bản ký đóng dấu của xã. Hai bên giao nhận đất và tiền đầy đủ. Gia đình tôi cũng đã xây nhà ở và được xã làm hợp đồng điện nước đầy đủ từ đó đến nay.

Do điều kiện khó khăn lúc đó gia đình tôi chưa làm thủ tục xin cấp sổ đỏ ngay. Hiện bà H. đã chết, gia đình tôi có nhờ 4 người con của bà ký xác nhận trên hồ sơ xin cấp sổ đỏ nhưng họ từ chối và yêu cầu phải trả cho họ 100 triệu đồng thì mới ký xác nhận cho.

Xin luật sư tư vấn, gia đình tôi phải làm sao để làm được sổ đỏ? Nếu không làm hồ sơ xin cấp sổ đỏ nữa (vì không muốn mất tiền cho họ quá nhiều như thế) thì sau này họ có thể tranh chấp quyền sở hữu mảnh đất của gia đình tôi được không? Tôi có thể bán mảnh đất đó một cách hợp pháp mà không có sổ đỏ được không?

Xin cảm ơn.

Vu Thi Ha

- Trả lời:

Do dữ liệu bạn cung cấp không đầy đủ lắm nên chúng tôi xin đưa ra các trường hợp sau để bạn tham khảo:

Trường hợp 1: Nếu quyền sử dụng đất trên là tài sản riêng của bà H. thì theo quy định pháp luật đất đai hiện hành, gia đình bạn có quyền liên hệ UBND quận huyện nơi có đất để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không cần phải có chữ ký của các con bà H. trên hồ sơ xin cấp sổ đỏ của bà.

Trường hợp 2: Nếu quyền sử dụng đất trên là tài sản chung của vợ chồng bà H. thì theo quy định tại điều 27, điều 28 Luật hôn nhân và gia đình, tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất và việc định đoạt tài sản này phải có sự bàn bạc nhất trí của chồng bà H..

Khi đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa gia đình bà và bà H. sẽ bị vô hiệu, hậu quả của hợp đồng sẽ do tòa án giải quyết.

Trường hợp 3: Nếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên được cấp cho hộ gia đình bà H., theo quy định tại khoản 2 điều 146 nghị định 181/2004 hướng dẫn thi hành Luật đất đai thì việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng chung của hộ gia đình phải được tất cả  thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự (trên 18 tuổi) trong hộ gia đình đó thống nhất và ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật.

Khi đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do bà H. tự một mình định đoạt với gia đình bà bị vô hiệu. Để giải quyết hậu quả của hợp đồng này cần phải có sự thỏa thuận thống nhất của các thành viên trên 18 tuổi trong hộ gia đình bà H..

Xin lưu ý với bạn là gia đình bạn không thể chuyển nhượng mảnh đất trên một cách hợp pháp theo quy định pháp luật đất đai hiện hành nếu mảnh đất đó chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU

 

Hiện trạng nhà khác với hiện trạng được công nhận

TTO - * Theo bản vẽ được lập vào tháng 4-2001, căn nhà (tọa lạc tại đường Hòa Bình, P.5, Q.11) có kết cấu tường gạch, sàn gỗ, 2 tầng. Đối với kết cấu tại tầng 2 thì một nửa phía trước sàn gỗ, một nửa phía sau là sàn bêtông giả, bancông là bêtông cốt thép.

Tuy nhiên trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở (sổ hồng) không ghi chú kết cấu tầng 2 là sàn gỗ hay bêtông giả. Trước khi lập thủ tục mua bán cho ba tôi (tháng 5-2002) thì chủ đã sửa chữa lại (không biết rõ cụ thể thời gian, chỉ có thể xác định sửa chữa trước năm 2002) khác với bản vẽ gốc và cũng không rõ có giấy phép xây dựng hay không.

Qua 5 lần giao dịch, hiện trang bổ sung đã hết chỗ, nên có ý kiến cho rằng phải cấp đổi chủ quyền trước khi tiến hành mua bán tại phòng công chứng. Tôi muốn hỏi nếu hiện trạng nhà khác với hiện trạng được công nhận tại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở thì có tiến hành mua bán được hay không?

Nếu trang cập nhật thay đổi chủ sở hữu hết chỗ cập nhật thì có cần cấp đổi lại giấy chứng nhận trước khi tiến hành thủ tục mua bán?

Lê Thị Kim Hoàng

- Luật sư Phạm Đình Sơn trả lời:

1/ Về hợp đồng mua bán nhà:

Căn cứ điều 2 Luật công chứng quy định công chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng.

Do tính chất xác thực của hợp đồng công chứng, nếu hiện trạng của căn nhà hoàn toàn khác so với hiện trạng được công nhận tại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, trước khi mua bán chủ sở hữu phải làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi tắt là giấy chứng nhận) cho phần diện tích tăng thêm.

Tuy nhiên, nếu trước đây chủ cũ xây dựng tầng 2 của căn nhà đã xin giấy phép xây dựng và đã cập nhật diện tích xây dựng mới tại trang bổ sung của giấy hồng, thì không cần phải lập thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận. Cụ thể, nếu giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (giấy hồng) chỉ thể hiện nhà 1 tầng, không có tầng 2 nhưng thực tế hiện nay có tầng 2 thì được xem là khác so với hiện trạng đã được công nhận tại giấy hồng.

Mặt khác, khi xem xét hiện trạng nhà hiện nay đúng hay sai để có thể tiến hành mua bán được hay không, thì cần phải căn cứ trên hiện trạng đã được công nhận khi cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (giấy hồng) hay trên hiện trạng đã được cập nhật tại trang bổ sung của giấy hồng sau khi đã xây dựng theo giấy phép xây dựng đã được cấp, chứ không căn cứ trên bản vẽ đã được vẽ trước đó. Bản vẽ chỉ là tài liệu thể hiện hình dáng, kích thước, kết cấu… của một căn nhà tại thời điểm đo vẽ, còn giấy chứng nhận hay giấy hồng là chứng từ có giá trị pháp lý công nhận cho một người là chủ sở hữu căn nhà theo một hiện trạng cụ thể đã được ghi nhận trên giấy chứng nhận.

Như vậy, nếu căn nhà đã được xây dựng sửa chữa vào năm 2001 mà không có giấy phép xây dựng, thì phải lập thủ tục để được cấp giấy chứng nhận theo thủ tục và các quy định được trình bày dưới đây.

2/ Về điều kiện và thủ tục cấp giấy chứng nhận:

Theo thư trình bày thì căn nhà được sửa chữa vào năm 2001, do đó về thành phần hồ sơ và điều kiện để được cấp giấy chứng nhận được quy định như sau:

a/ Về thành phần hồ sơ cần phải có khi lập thủ tục cấp giấy chứng nhận

Căn cứ khoản 1 điều 15 Quyết định 54/2007/QĐ-UBND ngày 30-3-2007 của UBND TP.HCM, quy định những giấy tờ sau đây cần phải có khi lập thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với cá nhân có nhà ở xây dựng không phép, sai phép trước ngày 1-7-2004 như sau:

- Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận theo mẫu;

- Các giấy tờ liên quan đến việc tạo lập nhà, trong trường hợp này là giấy hồng, các hợp đồng mua bán, tờ khai trước bạ...

- Bản vẽ sơ đồ nhà đất.

b/ Về việc tiến hành đo vẽ nhà đất

Căn cứ điều 8 Quyết định 54/2007/QĐ-UBND ngày 30-3-2007 của ỦBND TP.HCM thì bản vẽ sơ đồ nhà - đất do tổ chức có tư cách pháp nhân về đo vẽ nhà - đất lập, tổ chức có tư cách là các công ty được thành lập và hoạt động hợp pháp có chức năng đo vẽ hiện trạng nhà - đất.

Theo thư trình bày, bà cho rằng bản vẽ sơ đồ nhà đất hiện nay do Sở Địa chính đo vẽ là không chính xác.

c/ Về điều kiện cấp giấy chứng nhận

Theo thư trình bày, căn nhà được sửa chữa vào năm 2001. Do đó, về điều kiện để được cấp giấy chứng nhận được quy định như sau:

Căn cứ khoản 3, điểm a điều 15 Quyết định 54/2007/QĐ-UBND ngày 30-3-2007 của UBND TP.HCM quy định về điều kiện được cấp giấy chứng nhận đối với cá nhân có nhà ở xây dựng không phép, sai phép trước ngày 1-7-2004 được quy định như sau:

Nếu căn nhà trên phù hợp với quy hoạch xây dựng hay phù hợp với quy hoạch xây dựng nhưng chưa phù hợp với các quy định về kiến trúc (là các quy định về hình khối kiến trúc công trình, số tầng công trình; kiến trúc mặt đứng công trình; cốt xây dựng nền, tầng 1, các tầng; phần cho phép nhô ra của ban công tầng 1, màu sắc công trình, mái công trình…), thì được công nhận phần diện tích phù hợp với quy hoạch xây dựng và phù hợp với quy định về kiến trúc; đối với phần diện tích chưa phù hợp với quy định về kiến trúc thì được phép tồn tại theo hiện trạng, nhưng khi cấp giấy chứng nhận không công nhận phần diện tích này (căn cứ điều 2 Quyết định 39/2005/QĐ-TTg ngày 28-2-2005 của Chính phủ).

Hiện kể từ ngày 10-12-2009 là ngày Nghị định 88/2009/NĐ-CP có hiệu lực thì điều kiện công nhận quyền sở hữu nhà ở đối với nhà ở được xây dựng trước ngày 1-7-2006 (ghi chú là ngày Luật nhà ở có hiệu lực) thì nhà ở được công nhận nếu xây dựng trước khi có quy hoạch xây dựng, nếu xây dựng sau thời điểm có quy hoạch thì phải phù hợp với quy hoạch xây dựng. Do đó, sẽ không có việc căn nhà của bà phải khôi phục lại hiện trạng trước khi xây dựng, sửa chữa lại như thư trình bày.

3/ Về việc cập nhật thay đổi chủ sở hữu trên trang cập nhật của giấy chứng nhận hay giấy hồng:

Căn cứ khoản 1, điều 4 Luật số 38/2009/QH 12, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản, thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.

Căn cứ khoản 3, điều 4 Luật số 38/2009/QH 12 quy định giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và đất ở đã cấp trước ngày 1-8-2009 vẫn có giá trị pháp lý. Do đó, về nguyên tắc, người đã được cấp giấy chứng nhận theo quy định nêu trên thì có đầy đủ các quyền của mình, trong đó có quyền chuyển nhượng nhà, quyền này không thể bị hạn chế chỉ vì lý do trang cập nhật bổ sung không còn chỗ để cập nhật tên của người mua nhà.

Như vậy, bà vẫn có quyền tiến hành việc mua bán nhà tại phòng công chứng, khi thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi chủ sở hữu thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ cập nhật trên trang cập nhật rời được đính kèm với giấy hồng, hay chủ mới sẽ yêu cầu được cấp giấy chứng nhận mới theo Luật số 38/2009/QH12 nêu trên.

Trân trọng,

Luật sư PHẠM ĐÌNH SƠN
(Công ty luật TNHH Quốc An)

 

Thu hồi sổ đỏ cấp trái pháp luật

TTO - * Gia đình tôi có sử dụng sổ đỏ quyền sử dụng đất 1.180m2 (bao gồm diện tích đất ở và vườn thừa, cấp năm 1997). Nay cha tôi muốn sang nhượng QSDĐ lại cho tôi đứng tên, nhưng khi cha tôi ra xã làm thủ tục sang nhượng thì được thông báo diện tích đất chỉ có 880m2 chứ không phải 1.180m2.

Theo đó, nếu muốn chuyển QSDĐ phải làm lại sổ đỏ với diện tích 880m2. Tôi được biết sai số này là do anh trai tôi đã tự ý tách ra làm sổ đỏ riêng trong khi chưa có sự đồng ý của cha tôi. Tôi muốn hỏi cha tôi phải làm sao và những thủ tục gì để hợp thức hóa QSDĐ cho tôi với diện tích đã được thừa nhận trước đó - 1.180m2?

Trần Anh Tuấn (xã Cát Tiến, Phù Cát, Bình Định)

- Luật sư Đoàn Thị Ngọc Linh trả lời:

1. Kiến nghị thu hồi sổ đỏ cấp trái pháp luật

Theo nội dung thư, anh trai của bạn đã tự ý chuyển quyền sử dụng một phần thửa đất thuộc quyền sử dụng của cha bạn và được cấp sổ đỏ với diện tích chuyển quyền. Trong khi theo quy định, nếu cha bạn không đồng ý chuyển quyền sử dụng đất cho anh trai bạn thì anh trai bạn không thể thực hiện thủ tục chuyển quyền và được cấp giấy chứng nhận  quyền sử dụng đất theo trình tự, thủ tục luật định.

Tổ chức, công dân khi phát hiện giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật thì được quyền gửi kiến nghị, phát hiện đến cơ quan nhà nước đã cấp giấy chứng nhận. Cơ quan nhà nước đã cấp giấy chứng nhận có trách nhiệm xem xét, giải quyết (điều 21 nghị định số 84 ngày 25-5-2007 của Chính phủ).

Do vậy, khi phát hiện việc cấp sổ đỏ cho anh trai bạn là trái pháp luật, cha bạn có thể gửi kiến nghị về việc cấp sổ đỏ này đến UBND cấp huyện, nơi đã thực hiện việc cấp giấy chứng nhận.

UBND cấp huyện có trách nhiệm thông báo bằng văn bản tới cơ quan thanh tra cùng cấp để thẩm tra. Nếu qua thẩm tra có kết luận là giấy chứng nhận cấp trái pháp luật thì UBND đã cấp giấy chứng nhận ra quyết định thu hồi giấy chứng nhận đã cấp.

2. Chuyển quyền sử dụng đất

Để hợp thức hóa quyền sử dụng đất cho bạn, cha của bạn có thể thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất cho bạn theo hình thức chuyển nhượng hoặc tặng cho quyền sử dụng đất.

Việc chuyển nhượng hoặc tặng cho quyền sử dụng đất phải được lập thành hợp đồng  hoặc văn bản cam kết tặng cho quyền sử dụng đất (trường hợp tặng cho), phải có chứng  thực của UBND xã nơi có đất hoặc chứng nhận của công chứng.

Cũng lưu ý thêm với bạn, nếu thửa đất thuộc quyền sử dụng chung của hộ gia đình, hợp đồng chuyển nhượng hoặc tặng cho hay văn bản cam kết tặng cho phải được tất cả các thành viên có đủ năng lực hành vi dân sự trong hộ gia đình thống nhất và ký tên hoặc có văn bản ủy quyền theo quy định.

Hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất được nộp tại UBND xã nơi có đất. Nơi đây sẽ chuyển hồ sơ cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.

Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ, gửi số liệu địa chính đến cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có). Văn phòng đăng ký quyền  sử dụng đất hoặc UBND xã, thị trấn nơi có đất có trách nhiệm thông báo cho bên được chuyển quyền sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính. Bạn sẽ được trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi đã thực hiện nghĩa vụ tài chính.

Về nghĩa vụ tài chính, bạn không phải nộp thuế thu nhập cá nhân  khi nhận tặng cho hay nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ cha của bạn (điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân). Bạn phải nộp lệ phí trước bạ với thuế suất 0,5% trên giá trị đất được xác định theo khung giá đất do Nhà nước quy định.

Trân trọng.

Luật sư ĐOÀN THỊ NGỌC LINH
(VPLS Lê Nguyễn)

 

Tôi muốn thay đổi họ cho con trong giấy khai sinh có được không?

(CAO) Hỏi: Cách đây 5 năm, khi khai sinh cho con, tôi đã khai cho con tôi mang họ của mẹ. Nay vợ chồng tôi muốn con được mang đúng họ cha, có được không? Chúng tôi cần liên hệ với cơ quan nào để thay đổi thông tin trên giấy khai sinh của con tôi?


(Nguyễn Thị B., ngụ ở huyện Củ Chi, TPHCM)

Trả lời: Theo thư bạn trình bày thì bạn có thể thay đổi thông tin trên giấy khai sinh của người con theo quy định tại Nghị định 58/2005/NĐ-CP ngày 27-12-2005 của Chính Phủ “về đăng ký và quản lý hộ tịch”. Tuy nhiên, trước tiên bạn cần tiến hành thủ tục đăng ký việc nhận con theo quy định tại Điều 34 Mục 6 Nghị định 58/2005/NĐ-CP. Theo đó, người nhận cha, mẹ, con phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy định). Trong trường hợp cha hoặc mẹ nhận con chưa thành niên, thì phải có sự đồng ý của người hiện đang là mẹ hoặc cha, trừ trường hợp người đó đã chết, mất tích, mất năng lực hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Kèm theo Tờ khai phải xuất trình các giấy tờ sau đây:

a) Giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao) của người con;

b) Các giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con (nếu có)

Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng sự thật và không có tranh chấp, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký việc nhận cha, mẹ, con. Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Khi kết hôn với người nước ngoài, Sở Tư pháp phỏng vấn cả hai người xin kết hôn có đúng không?

(CAO) Hỏi: Tôi chuẩn bị kết hôn với người nước ngoài. Khi nộp hồ sơ đăng ký kết hôn ở Sở Tư pháp thì cán bộ tiếp nhận hồ sơ có yêu cầu tôi bổ túc một số giấy tờ và cho biết sau khi nộp đủ hồ sơ của tôi, Sở Tư pháp sẽ hẹn ngày phỏng vấn. Xin cho biết, nội dung phỏng vấn gồm những vấn đề gì? Có phải việc phỏng vấn là thủ tục bắt buộc hay không?
(Lê Thị M., ngụ ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang)

Trả lời: Theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Nghị định 69/2006/NĐ-CP ngày 21-7-2006 của Chính Phủ “sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10-7-2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài”, trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí, Sở Tư pháp có trách nhiệm thực hiện phỏng vấn trực tiếp tại trụ sở Sở Tư pháp đối với hai bên nam, nữ để kiểm tra, làm rõ về sự tự nguyện kết hôn của họ, về khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung và mức độ hiểu biết về hoàn cảnh của nhau. Việc phòng vấn phải được lập thành văn bản. Cán bộ phỏng vấn phải nêu rõ ý kiến đề xuất của mình và ký tên vào văn bản phỏng vấn.

Sau khi thực hiện phỏng vấn, Sở Tư pháp sẽ tiến hành niêm yết việc kết hôn trong 7 ngày liên tục tại trụ sở Sở Tư pháp, đồng thời có công văn đề nghị UBND cấp xã, nơi thường trú hoặc tạm trú có thời hạn của bên đương sự là công dân Việt Nam, nơi thường trú của người nước ngoài tại Việt Nam, thực hiện việc niêm yết. UBND cấp xã có trách nhiệm niêm yết việc kết hôn trong 7 ngày liên tục tại trụ sở uỷ ban, kể từ ngày nhận được công văn của Sở Tư pháp.

Trong thời hạn này, nếu có khiếu nại, tố cáo hoặc phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về việc kết hôn thì UBND cấp xã phải gửi văn bản báo cáo cho Sở Tư pháp.

Như vậy, sau khi nộp hồ sơ thì bạn và chồng bạn là người nước ngoài sẽ được Sở Tư pháp phỏng vấn để kiểm tra, làm rõ về sự tự nguyện kết hôn của cả hai người về khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ chung và mức độ hiểu biết về hoàn cảnh của nhau. Đó là thủ tục bắt buộc.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI

 

Chồng tôi chết, cháu tôi có được hưởng di sản thừa kế không?


(CAO) Hỏi: Năm 2006, chồng tôi qua đời có để lại một căn nhà nhưng không để lại di chúc và các đồng thừa kế đã cử tôi làm người quản lý di sản. Mới đây, cháu tôi (gọi tôi bằng thím dâu) đi nhậu về đòi tôi phải chia tài sản thừa kế và đã đập phá nhà tôi. Xin cho biết, cháu tôi có được hưởng di sản của chồng tôi hay không? Trường hợp cháu tôi đập phá nhà tôi, tôi có thể kiện cháu tôi ra tòa để yêu cầu bồi thường thiệt hại có được không?
(Hoàng Thị D., ngụ ở Q.3, TPHCM)

Trả lời: Theo Điều 638 và điểm a khoản 1 Điều 640 Bộ luật dân sự, người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thoả thuận cử ra. Quyền của người quản lý di sản được đại diện cho những người thừa kế trong quan hệ với người thứ ba liên quan đến di sản thừa kế.

Ngoài ra, khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự cũng quy định những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Theo các quy định nêu trên, cháu của bạn không thuộc cùng hàng thừa kế với bạn và sẽ không được hưởng thừa kế theo pháp luật.

Việc cháu của bạn đập phá tài sản của bạn và các đồng thừa kế khác, bạn có thể đại diện các đồng thừa kế khởi kiện ra tòa để yêu cầu bồi thường những thiệt hại do cháu bạn đã gây ra.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI