Giải đáp pháp luật

Thủ tục nhận lại con đẻ

"Tôi có con ngoài giá thú, và vợ chồng chị gái đứng tên là cha mẹ của đứa trẻ khi làm thủ tục khai sinh. Cháu hoàn toàn do tôi nuôi dưỡng ăn học, nay đã đi học và tôi muốn trả lại đúng tên cha mẹ cho con. Xin cho biết tôi phải làm những thủ tục gì? (Nguyễn Thanh Tâm, Bắc Ninh)

Trả lời:

Theo quy định tại các Điều 32, 33 và 34 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch thì việc nhận cha, mẹ, con được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con, nếu bên nhận, bên được nhận là cha, mẹ, con còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha, mẹ, con và việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp.

Người nhận cha, mẹ, con phải nộp tờ khai (theo mẫu quy định). Trong trường hợp cha hoặc mẹ nhận con chưa thành niên, thì phải có sự đồng ý của người hiện đang là mẹ hoặc cha, trừ trường hợp người đó đã chết, mất tích, mất năng lực hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Kèm theo tờ khai phải xuất trình các giấy tờ sau đây: giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao) của người con; các giấy tờ, đồ vật hoặc các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con (nếu có).

Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng sự thật và không có tranh chấp, thì UBND cấp xã đăng ký việc nhận cha, mẹ, con. Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 5 ngày.

Bên cạnh thủ tục nói trên, Điều 64 Luật Hôn nhân và gia đình cũng có quy định: “Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình”.

Theo quy định này, người có yêu cầu xác định cha, mẹ cho con gửi đến tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi cư trú đề nghị giải quyết khi việc nhận cha, mẹ, con phát sinh tranh chấp. Trong trường hợp cần thiết, theo yêu cầu của đương sự, Tòa án sẽ tiến hành trưng cầu giám định ADN để có căn cứ khoa học khi xét xử.

Với các quy định nói trên, nếu vợ chồng chị gái của chị và cha đẻ cháu bé đều thống nhất với việc chị nhận lại con đẻ, để cha mẹ đẻ đứng tên trên Giấy khai sinh của cháu bé thì thủ tục nhận con sẽ được thực hiện tại UBND xã, phường nơi cư trú của chị và cháu bé theo hướng dẫn ở trên.

Luật sư Nông Thị Hồng Hà
Công ty Luật Hồng Hà
Số 8 Đình Ngang, Hoàn Kiếm, Hà Nội

(Theo VnExpress)

 

Người nước ngoài có cần giấy phép lao động tại VN không?

"Một người nước ngoài góp vốn cùng chúng tôi thành lập Công ty TNHH tại Việt Nam. Xin hỏi người nước ngoài đó có phải làm thủ tục xin cấp giấy phép lao động tại Việt Nam không?". (Nguyễn Hưng, TP HCM)

Trả lời:

Theo quy định tại Nghị định của Chính phủ số 34/2008/NĐ-CP ngày 25/3/2008 quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam thì người nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải có giấy phép lao động, trừ các trường hợp sau đây:

- Người nước ngoài vào Việt Nam làm việc với thời hạn dưới 03 (ba) tháng;

- Người nước ngoài là thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên;

- Người nước ngoài là chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;

- Người nước ngoài là thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần;

- Người nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện chào bán dịch vụ;

- Người nước ngoài vào Việt Nam làm việc để xử lý các trường hợp khẩn cấp như: những sự cố, tình huống kỹ thuật, công nghệ phức tạp nảy sinh làm ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh mà các chuyên gia Việt Nam và các chuyên gia nước ngoài hiện đang ở Việt Nam không xử lý được có thời gian trên 3 tháng thì hết 3 tháng làm việc tại Việt Nam, người nước ngoài phải làm thủ tục đăng ký cấp giấy phép lao động theo quy định tại Nghị định này.

- Luật sư nước ngoài đã được Bộ Tư pháp cấp giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam theo quy định của pháp luật.

Với quy định vừa viện dẫn thì người nước ngoài góp vốn thành lập Công ty TNHH ở Việt Nam thuộc đối tượng không phải làm thủ tục xin cấp Giấy phép lao động tại Việt Nam. Ngoài các trường hợp nói trên, các đối tượng khác là người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam đều phải có giấy phép lao động.

Thạc sĩ Phạm Thanh Bình
Công ty Luật Hồng Hà
Số 8 Đình Ngang, Hoàn Kiếm, Hà Nội

(Theo VnExpress)

 

Làm thủ tục tách quyền sở hữu đất chung

Khoảng năm 1987, xã có lập sơ đồ thửa đất mới, do chúng tôi không được báo và người trông coi đất giúp chúng tôi không rõ ranh giới nên cán bộ địa chính xã chỉ ghi tên một người là chủ sở hữu. (Lê Anh Tuấn)

Yêu cầu:

Bố tôi di cư năm 1954 cùng dì hai. Năm 1980, mẹ tôi đã làm giấy chia đất cho các con có xác nhận của UBND xã. Các anh chị em chúng tôi lần lượt có chỗ ở nơi khác để thuận tiện công tác, hằng năm chỉ mấy lần về thăm nhà. Khoảng năm 1987, xã có lập sơ đồ thửa đất mới, do chúng tôi không được báo và người trông coi giúp chúng tôi không rõ ranh giới nên cán bộ địa chính xã chỉ ghi tên một người là chủ sở hữu. Nay anh em chúng tôi có nhu cầu dựng nhà trên phần đất được chia. Đề nghị quý báo chỉ dẫn giúp tôi thủ tục tách quyền sở hữu?

Trả lời:

Vấn đề bạn hỏi, chúng tôi xin trả lời như sau:

Do đã có sự đồng thuận về việc phân chia đất của mẹ bạn cho các thành viên trong gia đình nên chỉ cần người đứng tên chủ sở hữu thửa đất tiến hành thủ tục tách thửa theo đúng diện tích mà mẹ bạn đã phân chia. Trên cơ sở đó, các thành viên trong gia đình có thể xây dựng nhà trên từng phần đất đã được tách.

Theo quy định tại điều 19, nghị định 84 năm 2007, hồ sơ gồm có:

- Đơn xin tách thửa;

- Giấy CNQSD đất chung;

- Hợp đồng mua bán, tặng cho (có công chứng);

- Trích lục thửa đất do đơn vị có chức năng đo đạc địa chính thực hiện;

- CMTND và hộ khẩu (bản sao có công chứng hoặc chứng thực) của bên mua - bán (tặng - cho).

Bạn cần nộp đầy đủ hồ sơ nêu trên tại Phòng Tài nguyên Môi trường để xin tách thửa. Thời hạn cấp tuân thủ quy định của pháp luật.

Chúc bạn thành công.

Luật sư Tô Đình Hưng
Văn phòng Luật sư Đức Quang
Phòng 1005B, M3M4 Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội

(Theo  VnExpress)

 

Không được từ chối nhận thừa kế để trốn nợ

“Mẹ tôi mất để lại cho chị tôi một ngôi nhà trị giá khoảng 600 triệu đồng, vì nhiều lý do, chị không muốn nhận thì có được không? Thủ tục từ chối được pháp luật quy định thế nào?”. (Nguyễn Thị Hải, Kiến An, Hải Phòng)

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 642 Bộ luật Dân sự: “Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác”.

Như vậy, chỉ trừ trường hợp chị bạn từ chối nhận thừa kế nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác (ví dụ như để không phải trả nợ, không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc bồi thường thiệt hại....) còn việc từ chối vì bất cứ lý do nào khác cũng đều được pháp luật công nhận.

Cũng theo quy định tại Điều 642 Bộ luật Dân sự nói trên thì việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản. Thời hạn từ chối nhận di sản là 6 tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Sau 6 tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế.

Hồ sơ từ chối nhận di sản tại cơ quan công chứng gồm có: Phiếu yêu cầu công chứng (theo mẫu); Chứng minh nhân dân, hộ khẩu, hộ chiếu, giấy khai sinh, hộ chiếu và các giấy tờ tùy thân khác; Giấy tờ chứng minh người từ chối nhận di sản là người được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật (ví dụ như di chúc…) và văn bản từ chối nhận di sản trong đó có cam kết việc từ chối nhận di sản không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình với người khác.

Luật sư Nông Thị Hồng Hà
Công ty Luật Hồng Hà
Số 8 Đình Ngang, Hoàn Kiếm, Hà Nội

(Theo VnExpress)