Giải đáp pháp luật

Thành viên của công ty có được chuyển nhượng phần vốn góp của mình không?

(CAO) Hỏi: Tôi là thành viên sáng lập của công ty TNHH AT. Vì lý do bận đi du học ở nước ngoài nên tôi muốn chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác có được không?
(Nguyễn Văn Ph., ngụ ở Q.Tân Phú, TPHCM)

Trả lời: Theo Điều 44 - Luật doanh nghiệp, thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây:

1. Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện;

2. Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chào bán.

Ngoài ra, Điều 45 - Luật doanh nghiệp cũng quy định: Thành viên có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác. Trường hợp người được tặng cho là người có cùng huyết thống đến thế hệ thứ ba thì họ đương nhiên là thành viên của công ty. Trường hợp người được tặng cho là người khác thì họ chỉ trở thành thành viên của công ty khi được Hội đồng thành viên chấp thuận.

Theo các quy định nêu trên, bạn được quyền chuyển nhượng hoặc tặng cho phần vốn góp của mình cho người khác.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Tôi muốn ly hôn với người vợ đang sinh sống ở nước ngoài, tòa án nào giải quyết?

(CAO) Hỏi: Năm 1995, trước khi cưới nhau, tôi và vợ tôi đã làm thủ tục đăng ký kết hôn ở thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Sau đó, vợ tôi đã ra nước ngoài sinh sống hơn 10 năm qua và không còn liên lạc gì với tôi và tôi cũng không biết địa chỉ của vợ tôi (gia đình vợ tôi biết nhưng không muốn tôi liên hệ). Nay tôi muốn đơn phương xin ly hôn có được không? Tòa án nào giải quyết?
(Lê Hoàng Ngh., ngụ ở tỉnh Tiền Giang)

Trả lời: Theo khoản 1 Điều 85 - Luật Hôn nhân và Gia đình, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 36 - Bộ Luật tố tụng dân sự quy định: Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình trong trường hợp nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết.

Ngoài ra, theo khoản 2, Mục II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16-4-2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân, gia đình và Bộ luật tố tụng dân sự" thì đối với vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài sẽ do tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết.

Trường hợp bên đương sự là bị đơn đang ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức hoặc giấu địa chỉ nên nguyên đơn ở trong nước không thể biết địa chỉ, tin tức của họ, thì giải quyết như sau: Nếu thông qua thân nhân của họ mà biết rằng họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước, nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Toà án, thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI

Nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Sau khi xét xử Toà án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng.

Theo các quy định nêu trên, bạn có thể nộp đơn xin ly hôn đến toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang để được xem xét, giải quyết.


 

Bồi thường khi thu hồi đất có giấy tờ hợp lệ

TTO - * Gia đình tôi có một thửa ruộng (khoảng 4 sào = 2.000m2). Thửa ruộng này do ông bà chúng tôi để lại từ thời Pháp thuộc (trước 1945) với giấy chứng nhận trích lục bản đồ. Kể từ thời đó, gia đình chúng tôi vẫn làm ruộng kiếm sống trên thửa đất ấy và vẫn tuân thủ đóng thuế ruộng đất cho Nhà nước.

Tuy nhiên gia đình tôi chưa làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay chúng tôi được biết thửa đất này sẽ thuộc diện phải giải tỏa. Tôi muốn hỏi với giấy tờ như vậy liệu chúng tôi có được giải quyết đền bù, và được đền bù thế nào đối với thửa ruộng trên? Xin cảm ơn.

Phạm Sỹ Ngọc Quảng

- Luật sư Huỳnh Văn Nông trả lời:

Theo những thông tin nói trên, thửa đất của bạn mặc dù vẫn chưa thực hiện thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã có giấy chứng nhận trích lục bản đồ - đây là một loại giấy tờ được quy định tại khoản 1 điều 50 Luật đất đai. Nghĩa là trong trường hợp này, thửa đất của bạn đã có giấy tờ hợp lệ.

Vì thế, một khi thửa đất nói trên bị thu hồi theo quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền, theo khoản 3 điều 8 nghị định 197/2004/NĐ-CP, điều 14 nghị định 69/2009/NĐ-CP, bạn sẽ được bồi thường theo quy định của pháp luật.

Đối với đất nông nghiệp, việc bồi thường được thực hiện theo điều 16 nghị định 69/2009/NĐ-CP - “bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng”.

Thân ái chào bạn.

Luật sư HUỲNH VĂN NÔNG

 

Hợp đồng uỷ quyền không xác định thời hạn, có hiệu lực bao lâu?

(CAO) Hỏi: Tháng 3-2008, vợ chồng tôi có làm hợp đồng uỷ quyền cho bà H. được thay mặt tôi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở nhưng không có thời hạn uỷ quyền. Tuy nhiên, đến nay đã gần 2 năm mà hồ sơ của tôi vẫn chưa làm xong. Xin cho biết, nay tôi muốn uỷ quyền cho người khác làm có được không?


(Lê Thị D., ngụ ở huyện Hóc Môn, TPHCM)

Trả lời: Theo Điều 582 Bộ luật dân sự, thời hạn uỷ quyền do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu không có thoả thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng uỷ quyền có hiệu lực một năm, kể từ ngày xác lập việc uỷ quyền.

Như vậy, hợp đồng ủy quyền làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở giữa vợ chồng bạn với bà H. đã chấm dứt. Do đó, bạn có thể thông báo cho bà H. về việc chấm dứt này để bạn có thể làm hợp đồng ủy quyền mới cho người khác thực hiện việc nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI

 

Có được chuyển nhượng tài sản trên đất thuê?

TTO - * Đất mà doanh nghiệp tôi đang sử dụng là đất thuê của Nhà nước để xây dựng trường mầm non tư thục. Hiện doanh nghiệp tôi muốn chuyển nhượng trường mầm non này cho doanh nghiệp khác. Vậy khi chuyển nhượng tài sản thì có phải chuyển cả tài sản là trường mầm non và quyền thuê đất không?

Nếu tách riêng tài sản (trường mầm non) và quyền thuê đất thì tách như thế nào? Có được viết hóa đơn chuyển quyền thuê đất không? Cách tính thuế thu nhập của doanh nghiệp khi chuyển quyền thuê đất?

Quỳnh_Trang (LC)

- Luật sư Nguyễn Văn Hậu trả lời:

Theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 111 Luật đất đai, doanh nghiệp sử dụng đất dưới hình thức thuê chỉ có quyền bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định.

Trong trường hợp trường của bạn được Nhà nước cho thuê đất trước ngày 1-7-2004 (ngày Luật đất đai có hiệu lực thi hành) mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm thì có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công trình kiến trúc, kết cấu hạ tầng đã được xây dựng gắn liền với đất trong thời hạn đã trả tiền thuê đất (điểm đ khoản 1 điều 111 Luật đất đai).

Pháp luật đất đai hiện hành không quy định tách bạch tài sản - công trình xây dựng - trường mầm non tư thục với quyền thuê đất khi chuyển nhượng hoặc bán công trình xây dựng gắn liền với đất thuê.

Khi chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất thuê, trường của  bạn phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng theo đúng nội dung đã tiến hành là bán tài sản - công trình xây dựng (trường mầm non tư thục) gắn liền với QSDĐ đất thuê.

Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế được tính bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất. Trong đó thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định như sau:

 

Thu nhập

tính thuế

=

Thu nhập

chịu thuế

-

Thu nhập được

miễn thuế

+

Các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định

Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định bằng doanh thu từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản trừ giá vốn của bất động sản và các khoản chi phí được trừ liên quan đến hoạt động chuyển nhượng bất động sản:

-  Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định theo giá thực tế chuyển nhượng.

Trường hợp giá chuyển quyền sử dụng đất thấp hơn giá đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định thì tính theo giá do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định tại thời điểm chuyển nhượng bất động sản.

- Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là thời điểm bàn giao bất động sản.

Trường hợp có thu tiền trước theo tiến độ thì thời điểm xác định doanh thu tính số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp là thời điểm thu tiền. Bộ Tài chính hướng dẫn việc tạm nộp thuế quy định tại khoản này.

- Chi phí chuyển nhượng bất động sản được trừ bao gồm các loại chi phí sau:

+ Giá vốn của đất chuyển quyền được xác định phù hợp với nguồn gốc quyền sử dụng đất, cụ thể đối với đất Nhà nước thu tiền cho thuê đất thì giá vốn là số tiền cho thuê đất thực nộp ngân sách nhà nước;

+ Chi phí bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất;

+ Các loại phí, lệ phí theo quy định của pháp luật liên quan đến cấp quyền sử dụng đất;

+ Chi phí cải tạo đất, san lấp mặt bằng;

+ Giá trị kết cấu hạ tầng, công trình kiến trúc có trên đất;

+ Chi phí khác liên quan đến bất động sản được chuyển nhượng.

Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ việc chuyển nhượng bất động sản là 25% trừ trường hợp doanh nghiệp được hưởng mức thuế suất ưu đãi theo quy định tại điều 15 nghị định 124/2008/NĐ-CP ngày 11-12-2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU

 

Quyền sử dụng đất khi bị thu hồi một phần

TTO - * Nhà tôi có một thửa đất, sau khi thị xã La Gi mở con đường mới băng ngang qua thửa đất, đã chia mảnh đất ra thành hai phần, các phần đất còn lại nằm ở hai bên đường, mỗi phần có chiều sâu (tính từ mép đường đến ranh đất) không đầy 10m.

Tôi muốn biết như vậy thửa đất của tôi có còn giá trị hay không? Tôi có quyền mua bán hay chuyển nhượng cho chủ đất phía sau thửa đất tôi hay không? Xin cho biết một số luật về đất đai có liên quan đến trường hợp của tôi? Mong sớm được phản hồi. Xin cảm ơn.

Dương Văn Chín (iendlysmile9@...)

- Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp, tôi hiểu rằng dự án đường giao thông đã chia thửa đất của bạn thành hai phần. Hiện tại phần đất còn lại nằm ở hai bên đường, mỗi phần có chiều sâu (tính từ mép đường đến ranh đất) là gần 10m.

Hai phần đất còn lại của bạn nếu không thuộc quy hoạch lộ giới, hành lang an toàn giao thông; hoặc thuộc quy hoạch lộ giới, hành lang an toàn giao thông nhưng Nhà nước chưa có quyết định thu hồi đất thì bạn vẫn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lúc này, bạn có thể thực hiện đầy đủ các quyền của người sử dụng đất, trong đó có quyền chuyển nhượng.

Trường hợp hai phần đất trên đã có quyết định thu hồi đất nhưng Nhà nước chưa giải phóng mặt bằng thì bạn được phép sử dụng theo hiện trạng cho đến khi Nhà nước giải phóng mặt bằng.

Để biết rõ thông tin quy hoạch bạn có thể liên hệ với UBND huyện nơi có thửa đất để được cung cấp cụ thể.

Thân ái chào bạn.

Luật sư HUỲNH VĂN NÔNG

 

Làm sổ hồng khi chồng chưa ly hôn định cư ở nước ngoài

TTO - * Tôi có người cô, khi cô chú cưới nhau được bốn năm, có hai con thì chú bỏ đi (cách đây đã hơn 20 năm) nhưng chưa ly hôn, sau đó cô tôi có mua căn nhà (chỉ có giấy tờ tay do cô tôi đứng tên).

Nhà bây giờ đã được xây dựng khang trang, có giấy phép xây dựng, nhưng chưa có sổ hồng. Cô muốn làm sổ hồng nhưng lần nào lên cơ quan chức năng hỏi cũng "bị" trả lời "không được", và yêu cầu phải có hai vợ chồng đứng tên. Trong khi đó, chú tôi đang ở nước ngoài, đã nhập quốc tịch nước ngoài và đã có gia đình khác.

Vậy cho tôi hỏi, cô tôi có thể làm sổ hồng được không? Trên sổ hồng chỉ đứng tên mình cô tôi  hoặc con cô tôi thì có được không? Nếu được thì điều kiện thủ tục như thể nào? Mong được tư vấn. Cảm ơn.

Nguyen Thi Hai Van

- Luật sư Đoàn Thị Ngọc Linh trả lời:

Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Bên cạnh đó, Luật nhà ở cũng thể hiện, nếu nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng thì ghi đầy đủ tên của cả vợ và chồng trên giấy chứng nhận quyền sở hữu.

Nếu có vợ hoặc chồng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật thì chỉ ghi tên người có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam (Điều 12 Luật Nhà ở).

Theo thư bạn nêu, chồng của cô bạn đã lập gia đình ở nước ngoài. Tuy nhiên, nếu vợ chồng cô bạn vẫn còn tồn tại hôn nhân nhân về mặt pháp lý, khi đó căn nhà do cô bạn tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng.

Chồng của cô bạn đang định cư và nhập quốc tịch của nước ngoài nhưng chúng tôi không rõ, chồng của cô bạn có thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam không.

Trường hợp chồng của cô bạn  thuộc diện được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, cô bạn có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận chỉ ghi tên của mình trên giấy chứng nhận khi có văn bản thỏa thuận, đồng ý của người chồng, được công chứng theo quy định.

Trường hợp chồng của cô bạn không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì khi đó, chỉ ghi tên cô của bạn trên giấy chứng nhận.

Con của cô bạn được đứng tên trên giấy chứng nhận khi được vợ chồng cô bạn chuyển quyền sở hữu hoặc được thừa kế quyền sở hữu đối với căn nhà.

Trân trọng.

Luật sư ĐOÀN THỊ NGỌC LINH
(VPLS Lê Nguyễn)

 

Quyền nuôi con khi ly hôn

TT - * Tôi kết hôn được bốn năm và có một bé gái 3 tuổi rưỡi. Chồng tôi là cán bộ nhà nước, lương tháng khoảng 4.200.000 đồng, còn tôi làm ở công ty cổ phần, lương tháng 3.500.000 đồng.

Do anh ấy thường xuyên nhậu xỉn nên vợ chồng tôi hay xảy ra mâu thuẫn. Nay tôi muốn nộp đơn xin ly hôn nhưng chồng tôi  nói bằng mọi cách anh ấy sẽ bắt con, không cho tôi được quyền nuôi con. Xin hỏi khi ly hôn tôi có được quyền nuôi con không? Nếu có thì tôi được nuôi đến khi con bao nhiêu tuổi? Trong điều kiện nào thì người cha mới được quyền nuôi con?

V.Ng.A.

- Khi ly hôn, các bên có quyền thỏa thuận về việc người trực tiếp nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Để  quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng, tòa án căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của đứa con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển thể chất, bảo đảm việc học hành và sự phát triển tốt về tinh thần.

Chị có thể cung cấp cho tòa án các chứng cứ chứng minh chị có đủ các điều kiện như trên để đảm bảo việc nuôi dưỡng con mình.

Luật sư TRẦN PHẠM THANH LOAN

 

Muốn qua Úc chăm sóc mẹ cần chuẩn bị giấy tờ nào?

TTO - * Tôi hiện sinh sống ở Đà Nẵng, đã có vợ và ba con. Cha mẹ tôi đều trên 70 tuổi, định cư ở Úc từ năm 1991 đến nay. Mẹ tôi mấy năm nay bị bệnh nặng, bệnh viện ở Úc chữa trị nhưng không hồi phục, nay đã xuất viện và chỉ có mình cha tôi săn sóc.

Cha tôi cũng đã già, sức khỏe yếu kém, vì vậy tôi muốn qua Úc để chăm sóc mẹ (ở Úc tôi có một anh trai, một chị gái, đều có gia đình riêng và một em trai trên 30 tuổi, độc thân, nhưng có công việc làm và cũng ở riêng). Xin hỏi tôi cần chuẩn bị giấy tờ nào để xin qua Úc?

(Hồng Hà)

- Về trình tự, thủ tục thị thực nhập cảnh Úc để thăm thân thân có người nhà bảo lãnh (loại thị thực 679) được quy định như sau: từ ngày 2-4-2005, đơn xin thị thực đi thăm Úc theo diện bảo lãnh thân nhân phải do người bảo lãnh nộp hồ sơ bảo lãnh tại Úc.

Đương đơn xin thị thực cần điền đầy đủ vào đơn xin thị thực đi thăm Úc theo diện bảo lãnh thân nhân (mẫu 48S) - và gửi cho người bảo lãnh ở Úc cùng tất cả giấy tờ cần thiết khác.

Người bảo lãnh cần điền đơn xin bảo lãnh thân nhân đi thăm (mẫu đơn 1149) và nộp cả hai đơn 48S và 1149 cùng các giấy tờ cần thiết khác tại các văn phòng của Bộ Nhập cư và Quốc tịch (DIAC) ở tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ của mình. Hồ sơ hoàn chỉnh có thể được nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện.

Các giấy tờ cần nộp để hỗ trợ cho một đơn xin thị thực đi du lịch Úc (những giấy tờ quy định dưới đây chỉ là những giấy tờ tối thiểu, đương đơn có thể nộp thêm bất cứ giấy tờ nào mà họ tin rằng sẽ hỗ trợ cho việc xét hồ sơ xin thị thực):

1. Đơn xin thị thực du lịch (mẫu đơn 48R);

2. Bốn tấm ảnh (4cm x 6cm) cho mỗi đương đơn, ảnh chụp không được quá sáu tháng;

3. Hộ chiếu đã ký tên, không chấp nhận hộ chiếu hết hạn hoặc chưa ký tên;

4. Tờ khai chi tiết về thân nhân;

5. Bản sao công chứng tất cả các trang sổ hộ khẩu hiện tại;

6. Bản sao công chứng giấy khai sinh;

7. Bản gốc sơ yếu lý lịch có xác nhận của chính quyền địa phương. Đối với những đương đơn làm việc tại các cơ quan/ đơn vị của nhà nước thì sơ yếu lý lịch có thể do cơ quan/đơn vị đó chứng nhận. Sơ yếu lý lịch phải được xác nhận không quá sáu tháng.

8. Bằng chứng về tình trạng hôn nhân (ví dụ: quyết định ly hôn, giấy đăng ký kết hôn...);

9. Bằng chứng chứng minh về tài chính của đương đơn đủ để chi trả cho thời gian dự kiến ở tại Úc (ví dụ: bằng chứng về thu nhập của đương đơn ở Việt Nam, bằng chứng về các khoản tiết kiệm gửi ngân hàng...). Đương đơn phải cung cấp bản sao công chứng sổ tiết kiệm và/hoặc các giấy tờ khác về tài chính. Đương đơn lưu ý là giấy chi tiết tiền gửi ngân hàng nộp cùng hồ sơ phải được cấp trong vòng hai tháng (trước ngày nộp hồ sơ);

10. Bằng chứng về sở hữu nhà cửa, đất đai hoặc các tài sản có giá trị lớn khác của đương đơn;

11. Nếu đơn đương đang đi làm, cần cung cấp đầy đủ chi tiết về công việc làm của đương đơn, bao gồm: chức danh, địa chỉ, điện thoại nơi làm việc và một giấy xác nhận của cơ quan về việc đương đơn nghỉ phép;

12. Nếu có trẻ em dưới 18 tuổi cùng đi, cần nộp thư ủy quyền của cả cha/mẹ hoặc của cả hai cha mẹ của trẻ em đó cho phép trẻ em đó đi. Chữ ký của cả hai cha mẹ trên thư phải được chính quyền địa phương xác nhận;

13. Bằng chứng về mối quan hệ với thân nhân của đương đơn với người bảo lãnh tại Úc như bản sao công chứng giấy khai sinh của thân nhân;

14. Bằng chứng cho thấy thân nhân của đương đơn mang quốc tịch Úc hoặc thường trú tại Úc (bản sao công chứng hộ chiếu Úc, giấy khai sinh hoặc hộ chiếu nước ngoài có chứng nhận thường trú tại Úc), hoặc bằng chứng chứng minh tình trạng của thân nhân tại Úc nếu người đó đang tạm trú tại Úc, ví dụ: xác nhận họ đang học tập...

15. Thư mời của thân nhân xác nhận hình thức hỗ trợ mà thân nhân sẽ dành cho đương đơn;

16. Nếu thân nhân hỗ trợ về tài chính trong thời gian đương đơn ở Úc, cần nộp bằng chứng về tài chính của thân nhân như giấy chi tiết tiền gửi ngân hàng hiện tại (không quá hai tháng), chứng nhận việc làm và thu nhập như giấy thông báo thuế do Cơ quan Thuế vụ Úc cấp.

Luật sư TRỊNH VĂN HIỆP
(Văn phòng luật sư Gia Thành)

 

Tài sản chung nhưng đứng tên sở hữu của chồng?

Trong quá trình sống và làm việc chúng tôi đã tích góp tiền bạc mua được một số tài sản chung. Do tôi không có hộ khẩu bên chồng nên không thể cùng anh đứng tên sở hữu. Sau này chúng tôi có ly hôn thì một số tài sản đó được phân chia thế nào? Mong nhận được tư vấn của các bạn. (Ánh Tuyết)

Tôi lấy chồng có đăng ký kết hôn nhưng tôi chưa thể nhập hộ khẩu về bên nhà chồng tôi được vì một số lý do. Hộ khẩu của tôi vẫn ở bên nhà mẹ đẻ.

Xin chân thành cám ơn.

Trả lời:

"Dù bạn chưa nhập hộ khẩu vào bên chồng nhưng những tài sản tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân (kể cả tài sản bạn không đứng tên) vẫn là chung của vợ chồng", luật sư Vũ Tiến Vinh tư vấn cho bạn Ánh Tuyết.

Theo quy định của pháp luật về cư trú thì công dân có quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ đăng ký (hộ khẩu) thường trú hoặc tạm trú tại một địa điểm nhất định để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc quản lý nhà nước về cư trú. Về nguyên tắc, việc đăng ký hộ khẩu không có ý nghĩa trong việc xác định quyền sở hữu tài sản tại địa điểm đăng ký.

Nói cách khác là quyền sở hữu tài sản của một công dân không phụ thuộc vào nơi người đó đăng ký hộ khẩu, một người đăng ký hộ khẩu ở một nơi nhưng có quyền sở hữu đối với nhiều tài sản ở các địa bàn khác nhau.

Do vậy, với quy định trên thì mặc dù bạn chưa nhập hộ khẩu vào bên chồng nhưng những tài sản vợ chồng bạn tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân (kể cả những tài sản mà bạn không đứng tên) vẫn là tài sản chung vợ chồng. Bạn và chồng bạn đều có quyền sở hữu (gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt) ngang nhau đối với số tài sản đó.

Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm: Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thỏa thuận”.

Để hạn chế những tranh chấp không cần thiết trong việc xác định tài sản chung vợ chồng, pháp luật quy định trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng. Nếu khi ly hôn bên nào cho rằng một tài sản nào đó là tài sản riêng thì bên đó phải chứng minh, nếu không chứng minh được thì pháp luật mặc nhiên xác định tài sản đó là tài sản chung vợ chồng.

Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình thì về nguyên tắc khi ly hôn tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, tuy nhiên có xem xét đến hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này.

Khi chia tài sản, tòa án sẽ xem xét đến quyền, lợi ích hợp pháp của người vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Luật sư Vũ Tiến Vinh
Công ty Luật Bảo An

Theo VnExpress