Giải đáp pháp luật

Tôi muốn ly hôn với người chồng mang quốc tịch Úc có được không?

(CAO) Hỏi: Tôi có hộ khẩu tại TPHCM. Trước đây, tôi có kết hôn với một người nước ngoài mang quốc tịch Úc (có giấy chứng nhận kết hôn). Cách đây hơn 3 năm, chồng tôi đã về nước và đến nay vẫn không có tin tức gì. Tôi đã nhờ cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài tìm giúp địa chỉ nhưng được trả lời không biết ở đâu. Nay tôi muốn ly hôn có được không?
(Lê Thị Mỹ D., ngụ ở Q.6, TPHCM)

Trả lời: Theo quy định tại Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, bạn có quyền đơn phương nộp đơn xin ly hôn mà không cần có sự đồng ý của chồng bạn. Vì chồng bạn là người nước ngoài nên việc ly hôn của bạn sẽ thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh. Bạn có hộ khẩu thường trú tại TPHCM nên bạn nộp đơn xin ly hôn tại tòa án nhân dân TPHCM để được giải quyết.

Ngoài ra, theo điểm 2.4 Mục 2 Phần 2 của Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16-4-2003 “Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình”, đối với trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài.

Công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, nhưng người nước ngoài đã về nước mà không còn liên hệ với công dân Việt Nam, nay công dân Việt Nam xin ly hôn, thì Toà án thụ lý giải quyết. Nếu người nước ngoài bỏ về nước không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo quy định, thời gian không có tin tức cho vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam từ một năm trở lên mà đương sự, thân nhân của họ và các cơ quan có thẩm quyền (cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước họ, các cơ quan có thẩm quyền mà người đó là công dân), sau khi đã điều tra xác minh địa chỉ của họ theo thủ tục xuất nhập cảnh, địa chỉ mà họ khai khi đăng ký kết hôn theo giấy đăng ký kết hôn... nhưng cũng không biết tin tức, địa chỉ của họ, thì được coi là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ và xử cho ly hôn.

Do vậy, nếu chồng bạn đã bỏ về nước hơn ba năm không có tin tức cho bạn, cơ quan ngoại giao của nước ta cũng đã xác minh nhưng không tìm được địa chỉ, nên trường hợp của bạn sẽ được tòa chấp thuận cho ly hôn.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Việt kiều thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam có được không?

(CAO) Hỏi: Tôi là Việt kiều đang định cư tại Canada. Sắp tới, tôi muốn về Việt Nam xin thành lập doanh nghiệp để kinh doanh lâu dài ở Việt Nam có được không? Hồ sơ đăng ký kinh doanh gồm những giấy tờ gì? Cơ quan nào có thẩm quyền cấp phép đầu tư?
(Trần Văn Ph., ngụ ở Q.1, TPHCM)

Trả lời: Theo khoản 1 Điều 13 - Luật Doanh nghiệp 2005, tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam.

Về thủ tục thành lập doanh nghiệp tư nhân, bạn có thể liên hệ Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc phòng đăng ký kinh doanh cấp quận, huyện tùy theo loại hình kinh doanh để được cấp phép theo Điều 6 Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29-8-2006 của Chính Phủ “về đăng ký kinh doanh”.

Ngoài ra, Điều 14 của Nghị định 88/2006/NĐ-CP cũng quy định hồ sơ đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp tư nhân bao gồm:

1. Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh lập theo mẫu do Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định.

2. Bản sao hợp lệ của một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân hợp pháp của chủ doanh nghiệp tư nhân quy định tại Điều 18 Nghị định này (Hộ chiếu Việt Nam còn hiệu lực hoặc Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam...).

3. Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền  đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định.

4. Bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của Giám đốc (Tổng giám đốc) và cá nhân khác đối với doanh nghiệp tư nhân kinh doanh các ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề.

Theo các quy định nêu trên, bạn có thể về Việt Nam để thành lập doanh nghiệp, kinh doanh các ngành nghề theo quy định của pháp luật.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Thành viên của công ty có được chuyển nhượng phần vốn góp của mình không?

(CAO) Hỏi: Tôi là thành viên sáng lập của công ty TNHH AT. Vì lý do bận đi du học ở nước ngoài nên tôi muốn chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác có được không?
(Nguyễn Văn Ph., ngụ ở Q.Tân Phú, TPHCM)

Trả lời: Theo Điều 44 - Luật doanh nghiệp, thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây:

1. Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện;

2. Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chào bán.

Ngoài ra, Điều 45 - Luật doanh nghiệp cũng quy định: Thành viên có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình tại công ty cho người khác. Trường hợp người được tặng cho là người có cùng huyết thống đến thế hệ thứ ba thì họ đương nhiên là thành viên của công ty. Trường hợp người được tặng cho là người khác thì họ chỉ trở thành thành viên của công ty khi được Hội đồng thành viên chấp thuận.

Theo các quy định nêu trên, bạn được quyền chuyển nhượng hoặc tặng cho phần vốn góp của mình cho người khác.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Tôi muốn ly hôn với người vợ đang sinh sống ở nước ngoài, tòa án nào giải quyết?

(CAO) Hỏi: Năm 1995, trước khi cưới nhau, tôi và vợ tôi đã làm thủ tục đăng ký kết hôn ở thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Sau đó, vợ tôi đã ra nước ngoài sinh sống hơn 10 năm qua và không còn liên lạc gì với tôi và tôi cũng không biết địa chỉ của vợ tôi (gia đình vợ tôi biết nhưng không muốn tôi liên hệ). Nay tôi muốn đơn phương xin ly hôn có được không? Tòa án nào giải quyết?
(Lê Hoàng Ngh., ngụ ở tỉnh Tiền Giang)

Trả lời: Theo khoản 1 Điều 85 - Luật Hôn nhân và Gia đình, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 36 - Bộ Luật tố tụng dân sự quy định: Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình trong trường hợp nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết.

Ngoài ra, theo khoản 2, Mục II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16-4-2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân, gia đình và Bộ luật tố tụng dân sự" thì đối với vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài sẽ do tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết.

Trường hợp bên đương sự là bị đơn đang ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức hoặc giấu địa chỉ nên nguyên đơn ở trong nước không thể biết địa chỉ, tin tức của họ, thì giải quyết như sau: Nếu thông qua thân nhân của họ mà biết rằng họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước, nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Toà án, thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI

Nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Sau khi xét xử Toà án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng.

Theo các quy định nêu trên, bạn có thể nộp đơn xin ly hôn đến toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang để được xem xét, giải quyết.


 

Bồi thường khi thu hồi đất có giấy tờ hợp lệ

TTO - * Gia đình tôi có một thửa ruộng (khoảng 4 sào = 2.000m2). Thửa ruộng này do ông bà chúng tôi để lại từ thời Pháp thuộc (trước 1945) với giấy chứng nhận trích lục bản đồ. Kể từ thời đó, gia đình chúng tôi vẫn làm ruộng kiếm sống trên thửa đất ấy và vẫn tuân thủ đóng thuế ruộng đất cho Nhà nước.

Tuy nhiên gia đình tôi chưa làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay chúng tôi được biết thửa đất này sẽ thuộc diện phải giải tỏa. Tôi muốn hỏi với giấy tờ như vậy liệu chúng tôi có được giải quyết đền bù, và được đền bù thế nào đối với thửa ruộng trên? Xin cảm ơn.

Phạm Sỹ Ngọc Quảng

- Luật sư Huỳnh Văn Nông trả lời:

Theo những thông tin nói trên, thửa đất của bạn mặc dù vẫn chưa thực hiện thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã có giấy chứng nhận trích lục bản đồ - đây là một loại giấy tờ được quy định tại khoản 1 điều 50 Luật đất đai. Nghĩa là trong trường hợp này, thửa đất của bạn đã có giấy tờ hợp lệ.

Vì thế, một khi thửa đất nói trên bị thu hồi theo quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền, theo khoản 3 điều 8 nghị định 197/2004/NĐ-CP, điều 14 nghị định 69/2009/NĐ-CP, bạn sẽ được bồi thường theo quy định của pháp luật.

Đối với đất nông nghiệp, việc bồi thường được thực hiện theo điều 16 nghị định 69/2009/NĐ-CP - “bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng”.

Thân ái chào bạn.

Luật sư HUỲNH VĂN NÔNG

 

Hợp đồng uỷ quyền không xác định thời hạn, có hiệu lực bao lâu?

(CAO) Hỏi: Tháng 3-2008, vợ chồng tôi có làm hợp đồng uỷ quyền cho bà H. được thay mặt tôi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở nhưng không có thời hạn uỷ quyền. Tuy nhiên, đến nay đã gần 2 năm mà hồ sơ của tôi vẫn chưa làm xong. Xin cho biết, nay tôi muốn uỷ quyền cho người khác làm có được không?


(Lê Thị D., ngụ ở huyện Hóc Môn, TPHCM)

Trả lời: Theo Điều 582 Bộ luật dân sự, thời hạn uỷ quyền do các bên thoả thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu không có thoả thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng uỷ quyền có hiệu lực một năm, kể từ ngày xác lập việc uỷ quyền.

Như vậy, hợp đồng ủy quyền làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở giữa vợ chồng bạn với bà H. đã chấm dứt. Do đó, bạn có thể thông báo cho bà H. về việc chấm dứt này để bạn có thể làm hợp đồng ủy quyền mới cho người khác thực hiện việc nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI

 

Có được chuyển nhượng tài sản trên đất thuê?

TTO - * Đất mà doanh nghiệp tôi đang sử dụng là đất thuê của Nhà nước để xây dựng trường mầm non tư thục. Hiện doanh nghiệp tôi muốn chuyển nhượng trường mầm non này cho doanh nghiệp khác. Vậy khi chuyển nhượng tài sản thì có phải chuyển cả tài sản là trường mầm non và quyền thuê đất không?

Nếu tách riêng tài sản (trường mầm non) và quyền thuê đất thì tách như thế nào? Có được viết hóa đơn chuyển quyền thuê đất không? Cách tính thuế thu nhập của doanh nghiệp khi chuyển quyền thuê đất?

Quỳnh_Trang (LC)

- Luật sư Nguyễn Văn Hậu trả lời:

Theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 111 Luật đất đai, doanh nghiệp sử dụng đất dưới hình thức thuê chỉ có quyền bán tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê; người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định.

Trong trường hợp trường của bạn được Nhà nước cho thuê đất trước ngày 1-7-2004 (ngày Luật đất đai có hiệu lực thi hành) mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm thì có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và công trình kiến trúc, kết cấu hạ tầng đã được xây dựng gắn liền với đất trong thời hạn đã trả tiền thuê đất (điểm đ khoản 1 điều 111 Luật đất đai).

Pháp luật đất đai hiện hành không quy định tách bạch tài sản - công trình xây dựng - trường mầm non tư thục với quyền thuê đất khi chuyển nhượng hoặc bán công trình xây dựng gắn liền với đất thuê.

Khi chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất thuê, trường của  bạn phải xuất hóa đơn giá trị gia tăng theo đúng nội dung đã tiến hành là bán tài sản - công trình xây dựng (trường mầm non tư thục) gắn liền với QSDĐ đất thuê.

Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế được tính bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất. Trong đó thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định như sau:

 

Thu nhập

tính thuế

=

Thu nhập

chịu thuế

-

Thu nhập được

miễn thuế

+

Các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định

Thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định bằng doanh thu từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản trừ giá vốn của bất động sản và các khoản chi phí được trừ liên quan đến hoạt động chuyển nhượng bất động sản:

-  Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định theo giá thực tế chuyển nhượng.

Trường hợp giá chuyển quyền sử dụng đất thấp hơn giá đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định thì tính theo giá do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định tại thời điểm chuyển nhượng bất động sản.

- Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là thời điểm bàn giao bất động sản.

Trường hợp có thu tiền trước theo tiến độ thì thời điểm xác định doanh thu tính số thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp là thời điểm thu tiền. Bộ Tài chính hướng dẫn việc tạm nộp thuế quy định tại khoản này.

- Chi phí chuyển nhượng bất động sản được trừ bao gồm các loại chi phí sau:

+ Giá vốn của đất chuyển quyền được xác định phù hợp với nguồn gốc quyền sử dụng đất, cụ thể đối với đất Nhà nước thu tiền cho thuê đất thì giá vốn là số tiền cho thuê đất thực nộp ngân sách nhà nước;

+ Chi phí bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất;

+ Các loại phí, lệ phí theo quy định của pháp luật liên quan đến cấp quyền sử dụng đất;

+ Chi phí cải tạo đất, san lấp mặt bằng;

+ Giá trị kết cấu hạ tầng, công trình kiến trúc có trên đất;

+ Chi phí khác liên quan đến bất động sản được chuyển nhượng.

Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ việc chuyển nhượng bất động sản là 25% trừ trường hợp doanh nghiệp được hưởng mức thuế suất ưu đãi theo quy định tại điều 15 nghị định 124/2008/NĐ-CP ngày 11-12-2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU

 

Quyền sử dụng đất khi bị thu hồi một phần

TTO - * Nhà tôi có một thửa đất, sau khi thị xã La Gi mở con đường mới băng ngang qua thửa đất, đã chia mảnh đất ra thành hai phần, các phần đất còn lại nằm ở hai bên đường, mỗi phần có chiều sâu (tính từ mép đường đến ranh đất) không đầy 10m.

Tôi muốn biết như vậy thửa đất của tôi có còn giá trị hay không? Tôi có quyền mua bán hay chuyển nhượng cho chủ đất phía sau thửa đất tôi hay không? Xin cho biết một số luật về đất đai có liên quan đến trường hợp của tôi? Mong sớm được phản hồi. Xin cảm ơn.

Dương Văn Chín (iendlysmile9@...)

- Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp, tôi hiểu rằng dự án đường giao thông đã chia thửa đất của bạn thành hai phần. Hiện tại phần đất còn lại nằm ở hai bên đường, mỗi phần có chiều sâu (tính từ mép đường đến ranh đất) là gần 10m.

Hai phần đất còn lại của bạn nếu không thuộc quy hoạch lộ giới, hành lang an toàn giao thông; hoặc thuộc quy hoạch lộ giới, hành lang an toàn giao thông nhưng Nhà nước chưa có quyết định thu hồi đất thì bạn vẫn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lúc này, bạn có thể thực hiện đầy đủ các quyền của người sử dụng đất, trong đó có quyền chuyển nhượng.

Trường hợp hai phần đất trên đã có quyết định thu hồi đất nhưng Nhà nước chưa giải phóng mặt bằng thì bạn được phép sử dụng theo hiện trạng cho đến khi Nhà nước giải phóng mặt bằng.

Để biết rõ thông tin quy hoạch bạn có thể liên hệ với UBND huyện nơi có thửa đất để được cung cấp cụ thể.

Thân ái chào bạn.

Luật sư HUỲNH VĂN NÔNG

 

Làm sổ hồng khi chồng chưa ly hôn định cư ở nước ngoài

TTO - * Tôi có người cô, khi cô chú cưới nhau được bốn năm, có hai con thì chú bỏ đi (cách đây đã hơn 20 năm) nhưng chưa ly hôn, sau đó cô tôi có mua căn nhà (chỉ có giấy tờ tay do cô tôi đứng tên).

Nhà bây giờ đã được xây dựng khang trang, có giấy phép xây dựng, nhưng chưa có sổ hồng. Cô muốn làm sổ hồng nhưng lần nào lên cơ quan chức năng hỏi cũng "bị" trả lời "không được", và yêu cầu phải có hai vợ chồng đứng tên. Trong khi đó, chú tôi đang ở nước ngoài, đã nhập quốc tịch nước ngoài và đã có gia đình khác.

Vậy cho tôi hỏi, cô tôi có thể làm sổ hồng được không? Trên sổ hồng chỉ đứng tên mình cô tôi  hoặc con cô tôi thì có được không? Nếu được thì điều kiện thủ tục như thể nào? Mong được tư vấn. Cảm ơn.

Nguyen Thi Hai Van

- Luật sư Đoàn Thị Ngọc Linh trả lời:

Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Bên cạnh đó, Luật nhà ở cũng thể hiện, nếu nhà ở thuộc sở hữu chung của vợ chồng thì ghi đầy đủ tên của cả vợ và chồng trên giấy chứng nhận quyền sở hữu.

Nếu có vợ hoặc chồng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật thì chỉ ghi tên người có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam (Điều 12 Luật Nhà ở).

Theo thư bạn nêu, chồng của cô bạn đã lập gia đình ở nước ngoài. Tuy nhiên, nếu vợ chồng cô bạn vẫn còn tồn tại hôn nhân nhân về mặt pháp lý, khi đó căn nhà do cô bạn tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng.

Chồng của cô bạn đang định cư và nhập quốc tịch của nước ngoài nhưng chúng tôi không rõ, chồng của cô bạn có thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam không.

Trường hợp chồng của cô bạn  thuộc diện được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, cô bạn có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận chỉ ghi tên của mình trên giấy chứng nhận khi có văn bản thỏa thuận, đồng ý của người chồng, được công chứng theo quy định.

Trường hợp chồng của cô bạn không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì khi đó, chỉ ghi tên cô của bạn trên giấy chứng nhận.

Con của cô bạn được đứng tên trên giấy chứng nhận khi được vợ chồng cô bạn chuyển quyền sở hữu hoặc được thừa kế quyền sở hữu đối với căn nhà.

Trân trọng.

Luật sư ĐOÀN THỊ NGỌC LINH
(VPLS Lê Nguyễn)

 

Quyền nuôi con khi ly hôn

TT - * Tôi kết hôn được bốn năm và có một bé gái 3 tuổi rưỡi. Chồng tôi là cán bộ nhà nước, lương tháng khoảng 4.200.000 đồng, còn tôi làm ở công ty cổ phần, lương tháng 3.500.000 đồng.

Do anh ấy thường xuyên nhậu xỉn nên vợ chồng tôi hay xảy ra mâu thuẫn. Nay tôi muốn nộp đơn xin ly hôn nhưng chồng tôi  nói bằng mọi cách anh ấy sẽ bắt con, không cho tôi được quyền nuôi con. Xin hỏi khi ly hôn tôi có được quyền nuôi con không? Nếu có thì tôi được nuôi đến khi con bao nhiêu tuổi? Trong điều kiện nào thì người cha mới được quyền nuôi con?

V.Ng.A.

- Khi ly hôn, các bên có quyền thỏa thuận về việc người trực tiếp nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết. Để  quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng, tòa án căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của đứa con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển thể chất, bảo đảm việc học hành và sự phát triển tốt về tinh thần.

Chị có thể cung cấp cho tòa án các chứng cứ chứng minh chị có đủ các điều kiện như trên để đảm bảo việc nuôi dưỡng con mình.

Luật sư TRẦN PHẠM THANH LOAN