Giải đáp pháp luật

Bằng lái xe bị hỏng có được cấp lại không?

Mong nhận được ý kiến tư vấn của các bạn vì giấy phép lái xe của tôi hiện nay bị hư và không còn nhìn rõ được hình. Vậy tôi có thể làm lại được không, ở đâu? Có phải thi lại mới được nhận giấy phép lái xe khác không?

(Minh Anh, Vĩnh Long).

Luật sư Đinh Vũ Hòa cho biết, sở giao thông các địa phương vẫn thực hiện việc cấp lại giấy phép lái xe trong trường hợp bị hư hỏng nếu hồ sơ gốc vẫn còn hoặc có tên trong hồ sơ của cơ quan quản lý sát hạch.

Điều 43 của Thông tư số 07/2009/TT-BGTVT ngày 19/6/2009 quy định về đào tạo, sát hạch, cấp Giấy phép lái xe cơ giới đường bộ quy định về các trường hợp cấp lại Giấy phép lái xe như sau:

1. Người có giấy phép lái xe còn thời hạn sử dụng, nhưng không còn hồ sơ gốc, có tên trong hồ sơ của cơ quan quản lý sát hạch, được lập lại hồ sơ lái xe. Hồ sơ lái xe lập lại gồm: đơn xin đổi, tờ khai nguyên nhân mất hồ sơ gốc được cơ quan công an cấp xã xác nhận, bản sao giấy chứng minh nhân dân, giấy chứng nhận sức khỏe, được cơ quan quản lý cấp, đổi giấy phép lái xe xác nhận và đóng dấu, ghi rõ được lập lại lần thứ mấy vào góc trên bên phải đơn xin đổi giấy phép lái xe và trả cho người lái xe tự bảo quản.

2. Người có giấy phép lái xe đã hết hạn sử dụng:

a) Quá từ một tháng trở lên nhưng chưa quá 6 tháng kể từ ngày hết hạn, có đủ hồ sơ gốc, được dự sát hạch lại lý thuyết để được cấp lại giấy phép lái xe;

b) Quá từ 6 tháng trở lên kể từ ngày hết hạn, có đủ hồ sơ gốc, được dự sát hạch lại cả lý thuyết và thực hành lái xe để được cấp lại giấy phép lái xe;

c) Không còn hồ sơ gốc nhưng có tên trong hồ sơ của cơ quan quản lý sát hạch, được dự sát hạch lại cả lý thuyết và thực hành để được cấp lại giấy phép lái xe và lập lại hồ sơ lái xe.

3. Người có giấy phép lái xe bị mất:

a) Còn thời hạn sử dụng và còn hồ sơ gốc, nếu bị mất trong các trường hợp thiên tai như bão lụt, động đất hoặc bị hỏa hoạn, có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cướp, trấn lột, mất trộm có xác nhận rõ vụ việc của cơ quan công an, cơ quan quản lý giấy phép lái xe không phát hiện đang bị các cơ quan có thẩm quyền thu giữ, xử lý thì được xét cấp lại giấy phép lái xe. Ngoài các trường hợp bị mất trên, nếu không phát hiện đang bị các cơ quan có thẩm quyền thu giữ, xử lý, sau 02 tháng kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định, được dự sát hạch lại lý thuyết để được cấp lại giấy phép lái xe;

b) Còn thời hạn sử dụng nhưng không còn hồ sơ gốc, có tên trong hồ sơ của cơ quan quản lý sát hạch, không phát hiện đang bị các cơ quan có thẩm quyền thu giữ, xử lý, sau 2 tháng kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định, được dự sát hạch lại cả lý thuyết và thực hành để được cấp lại giấy phép lái xe;

c) Quá thời hạn sử dụng và còn hồ sơ gốc, nếu không phát hiện đang bị các cơ quan có thẩm quyền thu giữ, sau 2 tháng kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định, được dự sát hạch lại cả lý thuyết và thực hành để được cấp lại giấy phép lái xe;

d) Quá thời hạn sử dụng và không còn hồ sơ gốc, có tên trong hồ sơ của cơ quan quản lý sát hạch, nếu không phát hiện đang bị các cơ quan có thẩm quyền thu giữ, xử lý, sau 12 tháng kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định, được dự sát hạch lại cả lý thuyết và thực hành để được cấp lại giấy phép lái xe.

4. Người bị thu hồi, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe không thời hạn, sau thời hạn 1 năm kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thu hồi (hoặc tước quyền sử dụng giấy phép lái xe không thời hạn), nếu có nhu cầu, được dự học lại Luật Giao thông đường bộ, đạo đức người lái xe, được kiểm tra và có chứng nhận của cơ sở đào tạo đã hoàn thành nội dung học và nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định thì được dự sát hạch lại cả lý thuyết và thực hành để được cấp lại giấy phép lái xe....

Trong thông tư số 7 không có quy định về trường hợp Giấy phép lái xe bị nát, hư hỏng. Tuy nhiên thực tế Sở Giao thông các địa phương vẫn thực hiện việc cấp lại Giấy phép lái xe trong trường hợp bị hư hỏng như nêu trên nếu hồ sơ gốc vẫn còn hoặc có tên trong hồ sơ của cơ quan quản lý sát hạch.

Theo khoản 3 điều 36 Thông tư số 07 thì Sở Giao thông vận tải chịu trách nhiệm quản lý sát hạch, cấp giấy phép lái xe trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Vì vậy trường hợp của bạn có thể liên hệ trực tiếp với Sở giao thông tỉnh Vĩnh Long để làm hồ sơ xin cấp lại Giấy phép lái xe thay cho Giấy phép lái xe đã bị hư hỏng.

Luật sư Đinh Vũ Hòa
Công ty Luật TNHH Đại Việt,
Số 335 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội

Theo VnExpress

 

Có công nhận đất ở được sử dụng trước 18-12-1980?

TTO - * Tôi nộp đơn xin cấp chủ quyền tháng 10-2009, hiện chưa có thông báo nộp lệ phí trước bạ và cấp giấy chủ quyền nhà đất. Xin chuyên mục “Tư vấn nhà đất” giải đáp để tôi rõ thêm một số trường hợp sau:

Tôi được hưởng thừa kế nhà đất theo quyết định của tòa án, kỷ phần thừa kế là 3 căn nhà cùng trên mảnh đất 1.765,42m2 (đất ODT - đất ở tại đô thị): 624,23m2, đất LNK (lâu năm khác): 1.141,19m2 có trồng cây ăn quả, tọa lạc tại trung tâm thành phố tỉnh Sóc Trăng, tài sản được hình thành trước ngày 18-12-1980 không có giấy chủ quyền nhưng có trên sơ đồ địa chính quản lý của chế độ cũ để lại (Sở Địa chính còn lưu giữ sơ đồ thửa đất nhưng hồ sơ thì không có).

Nay chia cho 3 người đều có đất ODT, đất LNK và 1 căn nhà. Phần tôi được hưởng 282,26m2, trên đó có 1 căn nhà gồm 119,75m2 đất ODT và đất LNK 162,51m2.

Sau đó tôi làm giấy đăng ký chủ quyền, Sở Tài nguyên - môi trường chấp thuận cho tôi 200m2 đất ODT, nhưng khi chuyển hồ sơ qua cơ quan thuế thì qua buổi làm việc và trao đổi được biết cơ quan thuế tính lệ phí trước bạ 2 lần (lần 1: nhà đất trước đó không có giấy chủ quyền, lần 2: cấp chủ quyền cho tôi) theo tỉ lệ trên giá trị tài sản của quyết định tòa án, còn diện tích đất LNK 162,51 m2 tính thuế chuyển đổi mục đích sử dụng theo giá đất thổ cư (không chấp thuận 200m2 đất thổ cư như hạn mức công nhận diện tích đất ở đối với thửa đất có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư - theo quyết định số 13/2008/QĐ-UBND-28/04/08 của UBND tỉnh Sóc Trăng).

Tôi muốn biết tại sao giấy đăng ký chủ quyền của tôi không được hưởng một trong các điều khoản sau:

1/ Quy định tại khoản 1 điều 4 quyết định số 13/2008/QĐ-UBND-28/04/08 của UBND tỉnh Sóc Trăng (hoặc quy định tại khoản 2 điều 87 của Luật đất đai);

2/ Mục a khoản 2 điều 6 nghị định 181/2004 /NĐ-CP-03/12/2004 về thu tiền sử dụng đất

Cần phải có những chứng từ gì để tôi được hưởng quyền lợi mà Luật đất đai cho phép?

Xin cảm ơn.

tuyen phan

- Trả lời:

Nếu trong quyết định của tòa án có thể  hiện phần đất bạn được hưởng thừa kế được sử dụng từ trước ngày 18-12-1980, cũng như có ghi nhận rõ ranh giới thửa đất ở thì toàn bộ diện tích đất vườn trong khu đất có nhà ở được chia cho bạn sẽ được công nhận là đất ở mà không phụ thuộc  hạn mức theo quyết định của tòa án.

Trường hợp quyết định của tòa án không thể hiện rõ thời điểm sử dụng đất thì bạn phải có xác nhận của UBND cấp xã nơi có đất xác nhận là đất không tranh chấp, được sử dụng ổn định từ trước ngày 18-12-1980 để các cơ quan có thẩm quyền có cơ sở xem xét để công nhận toàn bộ diện tích mà bạn được hưởng thừa kế nêu trên là đất ở theo quy định tại điều 4 quyết định 13/2008/QĐ-UBND ngày 28-4-2008 của UBND tỉnh Sóc Trăng.

Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp này thì bạn không phải nộp tiền sử dụng đất (khoản 5 điều 3 nghị định 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất).

Như vậy nếu trong quyết định của tòa án có xác định rõ thời hạn sử dụng đất hoặc nếu không xác định rõ nhưng bạn có giấy xác nhận của UBND cấp xã nơi có đất xác nhận là thửa đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 18-12-1980 thì bạn có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền công nhận toàn bộ diện tích mà bạn được hưởng thừa kế là đất ở mà không cần phải tiến hành thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích đất LNK 162,51m2 nêu trên.

Theo quy định tại khoản 1 điều 6 nghị định 176/1999/N KCP ngày 29-12-1999 của Chính phủ về lệ phí trước bạ đã được sửa đổi, bổ sung bởi nghị định 80/2008/NĐ-CP, khi đăng ký QSDĐ, QSHNƠ và tài sản khác gắn liền với đất thì bạn phải đóng lệ phí trước bạ 0,5% giá trị tài sản chịu lệ phí trước bạ (đối với đất là giá đất được Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc trăng quy định theo khung giá đất của Chính phủ, đối với các tài sản khác là giá mua thực tế theo giá thị trường tại thời điểm tính lệ phí trước bạ).

Hiện nay không có văn bản nào quy định về việc thu lệ phí trước bạ hai lần như bạn trình bày. Do đó, trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đóng lệ phí trước bạ, bạn có quyền khiếu nại đến chi cục trưởng chi cục thuế để yêu cầu cơ quan thuế không được thu lệ phí trước bạ 2 lần đối với bạn. Trong thời hạn 30 ngày (trường hợp phức tạp là 45 ngày), chi cục trưởng chi cục thuế sẽ phải ban hành quyết định giải quyết khiếu nại của bạn.

Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại hoặc không được trả lời trong thời hạn giải quyết khiếu nại thì bạn có quyền khiếu nại tiếp lên cục trưởng Cục Thuế tỉnh Sóc Trăng hoặc khởi kiện ra tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất để yêu cầu giải quyết vụ án hành chính đối với hành vi buộc bạn đóng thuế hai lần cơ quan thuế.

Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU

 

Bị phạt vì chưa sang tên xe?

TT - Tôi đi môtô 1.000cm3 bị cảnh sát giao thông kiểm tra giấy phép lái xe. Tôi xuất trình giấp phép lái xe hạng A2, bảo hiểm xe, thẻ vận động viên môtô do Ủy ban Thể dục thể thao cấp, giấy đăng ký môtô (đứng tên bạn tôi, chưa kịp sang tên) thì cảnh sát giao thông phạt 1,5 triệu đồng vì tôi không đứng tên chủ quyền xe. Tôi bị phạt như vậy có đúng không?

MỘT BẠN ĐỌC

- Nghị định số 146/2007/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ quy định hành vi liên quan đến giấy đăng ký xe có thể bị xử phạt theo những trường hợp khác nhau. Anh cần xem lại đã bị xử phạt theo điều khoản nào trong quyết định xử phạt do cơ quan công an giao cho anh.

Thứ nhất, theo các điểm a, b khoản 4 điều 20 nghị định này thì các cơ quan chức năng có quyền phạt tiền từ 200.000-500.000 đồng đối với người điều khiển môtô, xe gắn máy không có giấy đăng ký xe theo quy định hoặc sử dụng giấy đăng ký xe đã bị tẩy xóa, sử dụng giấy đăng ký xe không đúng số khung, số máy của xe hoặc không do cơ quan có thẩm quyền cấp.

Thứ hai, theo điểm a, khoản 1 điều 34 nghị định 146 quy định: “Phạt tiền từ 100.000-200.000 đồng đối với chủ xe môtô, xe gắn máy và các loại xe tương tự môtô không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định”. Như vậy trường hợp phát hiện chủ xe không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định (mua xe xong nhưng không làm thủ tục sang tên) cơ quan chức năng có quyền phạt tiền từ 100.000- 200.000 đồng.

Nếu cho rằng đã bị xử phạt sai quy định về hành vi hoặc mức xử phạt, anh có quyền khiếu nại về quyết định xử phạt nói trên.

Thạc sĩ THÁI THỊ TUYẾT DUNG
(ĐH Luật TP.HCM)

 

Tranh chấp tiền đặt cọc mua nhà

TTO - * Tôi có đặt cọc cho ông H. số tiền 50 triệu đồng để mua một căn nhà. Trong giấy tờ đặt cọc có ghi rõ nếu đến ngày 5-12-2009 không đưa số tiền còn lại tôi sẽ bị mất tiền cọc, nhưng hiện tại tôi không muốn mua nhà nữa.

Tôi muốn hỏi nếu tại thời điểm tôi đã đặt cọc, ông H. vẫn chưa là chủ sở hữu căn nhà đó thì tôi có bị mất tiền đặt cọc (do ngày tôi đặt cọc ông H. chỉ mới đặt cọc cho chủ sở hữu căn nhà hai ngày trước đó, đến ngày 17-12-2009 ông H. mới đưa số tiền còn lại và là chủ sở hữu căn nhà)?

Nếu tôi thưa kiện thì mức án phí là bao nhiêu?

ngochien (ngochien@...)

- Luật sư Đoàn Thị Ngọc Linh trả lời:

1. Đặt cọc là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Theo đó, đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự.

Việc đặt cọc có hiệu lực khi có đầy đủ các điều kiện sau:

a. Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự

b. Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội

c. Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện

d. Việc đặc cọc phải được lập thành văn bản

Khi việc đặt cọc bị vô hiệu, các bên khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Theo đó, với trường hợp cụ thể bạn nêu, cho đến hết thời hạn đặt cọc người nhận cọc là ông H. vẫn chưa là chủ sở hữu căn nhà sẽ bán cho bạn. Điều này chưa làm cho việc đặt cọc vô hiệu.

Cho rằng việc đặt cọc của bạn đáp ứng các điều kiện nêu tại điểm a, c, d nêu trên, đồng thời mục đích của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, việc đặt cọc có vô hiệu hay bạn có bị mất tiền cọc không phụ thuộc thỏa thuận của các bên trong văn bản đặt cọc. Nếu việc đặt cọc bị vô hiệu, bạn sẽ được nhận lại tiền cọc.

Bạn không nói rõ nội dung được thể hiện trong văn bản đặt cọc. Do vậy, nếu có tranh chấp về tài sản đặt cọc, các bên không thể tự thương lượng giải quyết và khởi kiện ra tòa, bạn có thể tham khảo việc xử lý đặt cọc của tòa án theo quy định sau:

a. Trong trường hợp đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng hoặc chỉ để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng, hoặc vừa để bảo đảm việc giao kết hợp đồng vừa để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng, thì bên nào có lỗi làm cho hợp đồng không được giao kết hoặc không được thực hiện hoặc bị vô hiệu sẽ phải chịu phạt cọc.

b. Trong trường hợp đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng, nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng mới có sự vi phạm làm hợp đồng không được thực hiện hoặc mới phát hiện hợp đồng bị vô hiệu thì không phạt cọc. Việc giải quyết tranh chấp về vi phạm hợp đồng hoặc xử lý hợp đồng vô hiệu được thực hiện theo thủ tục chung.

c. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định điều kiện nếu đặt cọc bị vô hiệu là hợp đồng cũng bị vô hiệu, thì hợp đồng đương nhiên bị vô hiệu khi đặt cọc đó bị vô hiệu.

d. Trong các trường hợp tại các điểm a và c mục 2 này, nếu cả hai bên cùng có lỗi hoặc trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan thì không phạt cọc (nghị quyết số 01/2003/NQ-2003 ngày 16-4-2003 của hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao).

2. Nếu là nguyên đơn khởi kiện, bạn phải nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bằng 50% mức án phí dân sự sơ thẩm được tòa án dự tính theo giá trị tài sản có tranh chấp mà bạn yêu cầu giải quyết. Theo đó, nếu giá trị tài sản mà bạn yêu cầu tòa án giải quyết có giá trị từ 4.000.000.000 đồng trở xuống, bạn phải nộp tạm ứng án phí là 100.000 đồng.

Bạn có thể tìm hiểu thêm về mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch tại pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH 12 ngày 27-2-2009.

Luật sư ĐOÀN THỊ NGỌC LINH
(VPLS Lê Nguyễn)

 

Đã uỷ quyền cho người khác quản lý thì có lấy lại nhà được không?

(CAO) Hỏi: Năm 1990, tôi sang Úc sinh sống cùng gia đình nên có làm giấy uỷ quyền để giao căn nhà của mình cho ông A. quản lý sử dụng nhưng không xác định thời gian. Tháng 3-2007, tôi về Việt Nam và thông báo với ông A. là tôi sẽ lấy lại nhà vào tháng 5-2008 nhưng đến hẹn ông A. lại không giao nhà. Vậy tôi có thể kiện ra tòa để yêu cầu ông A. trả lại nhà cho tôi được không?
(Phan Minh H., ngụ ở Q.2, TPHCM)

Trả lời: Theo Điều 23 Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27-7-2006 quy định về Uỷ quyền quản lý nhà ở giữa cá nhân với cá nhân như sau:

1. Trường hợp trước khi xuất cảnh, chủ sở hữu nhà ở đã uỷ quyền cho người khác thường trú tại Việt Nam quản lý, nếu thời hạn uỷ quyền đã hết trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thì bên uỷ quyền được lấy lại nhà ở nhưng phải thông báo bằng văn bản cho người đang quản lý, sử dụng nhà ở đó biết trước ít nhất sáu tháng.

2. Trường hợp trước khi xuất cảnh, chủ sở hữu nhà ở đã uỷ quyền cho người khác thường trú tại Việt Nam quản lý, nếu đến ngày Nghị quyết này có hiệu lực mà thời hạn uỷ quyền vẫn còn thì chủ sở hữu được lấy lại nhà ở, kể từ ngày hết thời hạn uỷ quyền nhưng phải thông báo bằng văn bản cho người đang quản lý, sử dụng nhà ở đó biết trước ít nhất sáu tháng.

3. Trường hợp trước khi xuất cảnh, chủ sở hữu nhà ở đã uỷ quyền cho người khác thường trú tại Việt Nam quản lý, nếu thời hạn uỷ quyền không xác định thì bên uỷ quyền được lấy lại nhà ở nhưng phải thông báo bằng văn bản cho người đang quản lý, sử dụng nhà ở đó biết trước ít nhất mười hai tháng.

4. Trường hợp người đang quản lý, sử dụng nhà ở quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này không được công nhận là chủ sở hữu nhà ở đó thì có quyền yêu cầu chủ sở hữu nhà ở đó phải đền bù một khoản chi phí hợp lý do đã trông nom, bảo quản nhà ở.

Đối chiếu với các quy định nêu trên, trường hợp nếu ông A. từ chối không giao nhà thì bạn có thể nộp đơn khởi kiện đến TAND cấp huyện (nếu bạn hiện đang cư trú ở trong nước) hoặc TAND cấp tỉnh (nếu bạn hiện đang cư trú ở nước ngoài) để đòi lại nhà.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Mất chứng minh nhân dân, làm lại thế nào?

TT - * Tôi làm mất chứng minh nhân dân (CMND) cách đây gần hai năm khi quá cảnh tại sân bay Doha (Trung Đông). Xin hỏi khi về nước tôi phải làm thế nào để được cấp lại CMND?

Hhongnguyen88@...

- Bạn có thể liên hệ với cơ quan công an cấp huyện hoặc cấp tỉnh nơi đăng ký hộ khẩu thường trú để làm thủ tục xin cấp lại CMND.

Theo thông tư 04 ngày 29-4-1999 của Bộ Công an, người xin cấp lại CMND cần có đơn trình bày rõ lý do cần cấp lại, có xác nhận của công an phường, xã, thị trấn nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, ảnh dán vào đơn và đóng dấu giáp lai; xuất trình hộ khẩu thường trú (sổ hộ khẩu gia đình hoặc giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể); chụp ảnh (như trường hợp cấp mới); kê khai tờ khai cấp CMND theo mẫu; vân tay hai ngón trỏ có thể in vào tờ khai theo mẫu hoặc cơ quan công an thu vân tay qua máy lấy vân tay tự động để in vào tờ khai và CMND; nộp lệ phí.

Luật sư TRẦN CÔNG LY TAO

 

Nhà đang tranh chấp có thể bảo lãnh nhập hộ khẩu được không?

(CAO) Hỏi: Nhà tôi hiện đang có tranh chấp với người hàng xóm về ranh giới đất. Nay tôi muốn bảo lãnh cho cháu tôi nhập hộ khẩu thường trú để tiện việc đi học có được không?
(Trần Mạnh Hùng, ngụ ở Q.8, TPHCM)

Trả lời: Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 của Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25-6-2007, cơ quan chức năng không đăng ký thường trú khi công dân chuyển đến chỗ ở mới, thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Chỗ ở nằm trong địa điểm cấm, khu vực cấm xây dựng hoặc lấn chiếm mốc giới bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật, di tích lịch sử, văn hóa đã được xếp hạng;

b) Chỗ ở mà toàn bộ diện tích nhà ở nằm trên đất lấn chiếm trái phép;

c) Chỗ ở đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chỗ ở là nhà ở mà một phần hoặc toàn bộ diện tích đang có tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quyền sở hữu, sử dụng nhưng chưa được giải quyết theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp những người có quan hệ là ông, bà nội, ngoại, cha, mẹ, vợ, chồng, con chuyển đến ở với nhau);

d) Chỗ ở bị kê biên, tịch thu để thi hành án, trưng mua theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

đ) Chỗ ở là nhà ở đã có quyết định phá dỡ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đối chiếu với các quy định nêu trên, trường hợp nhà của bạn hiện đang có tranh chấp nên không thể bão lãnh cho cháu nhập khẩu hộ thường trú được.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI
 

Phân chia thế nào tài sản thừa kế của cha mẹ?

Tôi muốn hỏi về luật chia tài. Cha mẹ mất nhưng không để di chúc, tài sản được chia đều cho 7 người con nhưng 5 người anh chị không chịu ký tên bán nhà và đòi phần cao hơn vì nói lúc thân sinh còn sống họ góp tiền xây thêm lặt vặt trong nhà song không có bằng chứng cụ thể. (Trần Châu)

Nay 2 người em muốn chia nhà để kinh doanh riêng nhưng 5 anh chị kia không chịu ký tên. Họ nói nếu chia nhà thì họ không có chỗ ở khác, nếu mua nhà chỗ khác không thuận tiện cho việc họ đang làm và kinh doanh. Con cái họ cũng đang học gần đấy nhưng họ cũng không đồng ý cho tiền 2 người em theo giá nhà chia ra làm 7. Họ vẫn đòi phần nhiều hơn và không đồng ý ký tên bán nhà. Cứ thế không giải quyết được.

Xin hỏi trong trường hợp này luật pháp có cách nào giúp họ chia ra hay cứ để họ tranh chấp đến đời con cháu.

Rất cám ơn.

"Nếu những người thừa kế không thỏa thuận được về cách thức phân chia di sản thì một trong những người đó có quyền nộp đơn yêu cầu tòa án nơi có di sản để yêu cầu giải quyết", luật sư Phạm Văn Tiến tư vấn.

Theo Điều 632 Bộ luật dân sự (BLDS) mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Trường hợp trên, bạn và các anh chị em của bạn là người thừa kế theo pháp luật theo điểm a, khoản 1, Điều 676 BLDS.

Do đó, bạn và các anh chị em bạn cần họp mặt những người thừa kế để giải quyết về cách thức phân chia di sản của cha mẹ bạn để lại, mọi thoả thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản.

Trong trường hợp những người thừa kế không thỏa thuận được về cách thức phân chia di sản thì một trong những người đó có quyền nộp đơn yêu cầu tòa án nơi có di sản để yêu cầu giải quyết.

Theo khoản 2 điều 676 Bộ Luật dân sự thì khi vụ việc được đưa ra tòa nhờ phân xử thì bạn và các anh chị em của bạn sẽ được hưởng những phần bằng nhau. Nếu như các anh chị em khác của bạn cho rằng họ có công đóng góp thì họ phải chứng minh. Nếu họ chứng minh được thì phần di sản sẽ được chia đều sau khi trừ đi các chi phí đóng góp trên.

Luật sư Phạm Văn Tiến
Công ty Luật hợp danh Sài Gòn Việt Nam
168 Vĩnh Viễn, P.9, Quận 10, TP.HCM

 

Vi phạm về sử dụng hóa đơn thì các hóa đơn đó có được khấu trừ và hoàn thuế không?

Hỏi:

Tổ chức cá nhân có các hành vi vi phạm về sử dụng hóa đơn thì các hóa đơn đó có được khấu trừ và hoàn thuế không?

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 18 nghị định số 89 :

1. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 14; khoản 3 Điều 15 của Nghị định này thì các hoá đơn đó không được kê khai để tính khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT, không được tính vào chi phí khi tính thuế.

2. Tổ chức, cá nhân bị tạm đình chỉ sử dụng hoá đơn khi:

a) Có hành vi mua, bán hoá đơn không đúng quy định tại nghị định này; b) Không thực hiện các quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hoá đơn và thuế quy định tại nghị định này.

c) Thời gian tạm đình chỉ sử dụng hóa đơn tối đa không quá 3 tháng kể từ ngày vi phạm tại điểm a khoản này bị phát hiện và từ ngày tổ chức, cá nhân không thực hiện đúng quyết định xử phạt tại điểm b khoản này. Nếu vi phạm được khắc phục trong thời gian sớm hơn 3 tháng thì việc tạm đình chỉ sử dụng hóa đơn sẽ hết hiệu lực ngay sau ngày các vi phạm đã được khắc phục xong.

Trường hợp, quá thời hạn 3 tháng mà các vi phạm tại điểm a, b khoản này chưa được khắc phục thì áp dụng biện pháp quy định tại khoản 3 Điều này.

3. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan Thuế có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

VTCA (theo dddnOnline)

 

Mua đất bằng giấy tay có xin giấy phép xây dựng được không?

(CAO) Hỏi: Năm 2000, tôi có mua giấy tay 120m2 đất ở quận 2 nhưng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay tôi muốn xin giấy phép xây dựng nhà ở có được không? Thời gian cấp giấy phép là bao lâu?
(Huỳnh Tấn Đ., ngụ ở Q.2, TPHCM)

Trả lời: Theo thư bạn trình bày, nếu thửa đất mà bạn mua chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không thể xin giấy phép xây dựng được. Vì theo quy định tại Điều 7 của Quyết định số 04/2006/QĐ-UBND TP.HCM (ngày 17-1-2006) của UBND TP. Hồ Chí Minh, khi lập hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng, chủ đầu tư phải có một trong các loại giấy tờ sau đây:

a) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp (do Tổng Cục Quản lý ruộng đất trước đây hoặc do Tổng Cục địa chính hoặc do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành), kể cả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ gia đình mà trong đó có ghi diện tích đo đạc tạm thời hoặc ghi nợ tiền sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ;

b) Quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp để xây dựng công trình, kèm theo giấy tờ xác định chủ đầu tư đã thực hiện các yêu cầu nêu tại quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nêu trên. Trừ trường hợp quyết định giao đất cho cá nhân, hộ gia đình để xây dựng nhà ở riêng lẻ;

c) Những giấy tờ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất,
cho thuê đất để sử dụng vào mục đích làm nhà ở và các công trình khác, trong quá trình thực hiện các chính sách về đất đai qua từng thời kỳ của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mà người được giao đất, thuê đất vẫn liên tục sử dụng từ đó đến nay;

d) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ địa chính mà không có tranh chấp;

đ) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất ở mà người đó vẫn sử dụng đất liên tục từ đó đến nay và không có tranh chấp gồm: Bằng khoán điền thổ hoặc trích lục, trích sao bản đồ điền thổ, bản đồ phân chiết thửa; chứng thư đoạn mãi đã được thị thực, đăng tịch, sang tên tại Văn phòng Chưởng khế, Ty Điền địa, Nha Trước bạ;

e) Giấy tờ về thừa kế nhà, đất phù hợp với quy định của pháp luật về thừa kế;

g) Bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật;

h) Giấy tờ chuyển nhượng đất đai, mua bán nhà ở kèm theo quyết định sử dụng đất được Ủy ban nhân dân phường - xã - thị trấn kiểm tra là đất đó không có tranh chấp và được Ủy ban nhân dân quận - huyện xác nhận kết quả thẩm tra của Ủy ban nhân dân phường - xã - thị trấn;

i) Giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở theo hướng dẫn tại Thông tư số 47/BXD-XDCBĐT, ngày 05 tháng 8 năm 1989 và Thông tư số 02/BXD-ĐT, ngày 29 tháng 4 năm 1992 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện ý kiến của Thường trực Hội đồng Bộ trưởng về việc hóa giá nhà cấp III, cấp IV tại các đô thị từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 hoặc từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 05 tháng 7 năm 1994 mà trong giá nhà đã tính đến giá đất ở của nhà đó;

k) Giấy tờ hợp lệ về nhà ở, đất ở theo quy định pháp luật.

* Trường hợp không có các loại giấy tờ quy định nêu trên, các trường hợp sau đây cũng được xem xét cấp phép xây dựng:

a) Đối với nhà ở riêng lẻ nằm trong khu dân cư hiện hữu, ổn định sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 (thời điểm thực hiện chính sách về đất đai của Nhà nước), phù hợp với quy hoạch xây dựng là đất ở: chủ đầu tư phải có giấy cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về ranh giới thửa đất đang sử dụng không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân phường - xã, thị trấn nơi công trình xây dựng xác nhận.

b) Đối với công trình tôn giáo: phải được Ủy ban nhân dân phường - xã, thị trấn thẩm tra về đất không có tranh chấp, khiếu nại và được Ủy ban nhân dân quận - huyện xác nhận kết quả thẩm tra đó.

* Công trình dự kiến xây dựng phù hợp với quy hoạch xây dựng được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt nhưng loại công trình xây dựng không phù hợp với mục đích sử dụng đất ghi tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

Về thời hạn cấp giấy phép xây dựng, Điều 20 của quyết định này cũng nêu rõ: Đối với nhà ở riêng lẻ không quá 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; Đối với các công trình còn lại không quá 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Tiến sĩ PHẠM ĐÌNH CHI