Con chó trắng

Tôi đẩy chiếc xe ra khỏi nhà, con Ki-na quấn quít sau lưng. Xe nổ máy, nó chạy theo một đoạn rồi mới quay trở lại. Thói quen ấy hầu như ngày nào nó cũng biểu lộ, suốt mười năm. Với hai đứa con tôi, những người bạn nhỏ, cử chỉ đưa tiễn hoặc đón chào của nó ồn ào hơn, nhất là khi nó được đáp lại bằng thái độ gần gũi, thân thiện. Tiếng sủa mừng của Ki-na đã quen thuộc đến mức người hàng xóm có thể nhận biết lúc ấy tôi đi làm về hay mấy cu tý trong nhà vừa tan trường. Người hàng xóm cũng thích con Ki-na, nó đến xin ăn hoặc chọc phá những con chó khác nhưng không hề có hành động càn quấy, nhất là chưa bao giờ cắn người. Ki-na nổi tiếng khôn lanh và uy thế nhất vùng, người ta đặt cho nó cái biệt danh “Hoàng tử lưng gù”.

Buổi trưa hôm ấy, khi trở về nhà, tôi không nghe tiếng nó sủa. Tiếng sủa mừng kéo dài từ khi chiếc xe quẹo vào đầu ngõ cho đến lúc người chủ đặt chân vào nhà. Tôi cũng chưa chú ý đến sự im ắng ấy, bởi vì có lúc nó chạy quanh quẩn ở đâu đó, không nhận ra tiếng xe. Cũng có đôi lần, khi tôi đã vào nhà, một lúc sau từ đâu đó nó chạy đến vẫy đuôi, miệng ấm ớ những “từ” ngập ngừng như xin lỗi, hối tiếc.
Vợ tôi bước ra mở cổng, buồn bã thốt lên: “Con Ki-na bị người ta bắt mất rồi!”. “Ai bắt?” - tôi hỏi theo quán tính tự nhiên, vừa bất ngờ vừa bực dọc. Theo lời một người hàng xóm, sau khi tiễn tôi đi làm, chưa kịp trở vào nhà, con Ki-na bị hai gã thanh niên chạy xe Honda đến tròng dây vào cổ lôi đi. Bắt chó là một tệ nạn xảy ra thường xuyên ở khu phố này, mặc dù hết sức cảnh giác nhưng hôm nay lại đến lượt con chó nhà tôi. Ngồi vào bàn ăn, tôi buồn bực, nuốt không hết chén cơm. “Làm sao tìm nó về, tội nghiệp quá, người ta sẽ làm thịt nó!”, vợ tôi bồn chồn, lo lắng. Hai năm trước, vừa chạy long nhong ra phố, nó cũng đã một lần bị bắt. Xe bắt chó đưa nó về trạm phòng dịch thành phố. Tôi tìm ra, đóng tiền phạt xin nó về. Lần ấy nó sợ mất hồn, thơ thẩn đến cả tháng. Lần này, nó rơi vào tay bọn lưu manh, tính mạng khó mà an toàn. Bây giờ nó trôi dạt đến phương trời nào? Nhớ ánh mắt ân cần, tiếng kêu tha thiết hàng ngày của nó, lòng tôi bỗng se lại. Ngôi nhà ít người, không có nó càng thêm trống vắng. Đôi mắt đen tròn của nó dần hiện ra trước mặt tôi, long lanh, ươn ướt như cầu khẩn, van xin. Thời gian làm cho hình dạng, tâm tính nó thay đổi, nhưng đôi mắt thì vẫn cương trực, trong sáng! Dường như nó khóc, một sự sợ hãi lẫn uất ức. Phải cứu nó! Dù nó ở chốn nào cũng phải cố gắng truy tìm, còn hơn ngồi nuối tiếc, than van.

Một giờ trưa, nắng như đổ lửa, tôi phóng xe ra phố. Địa điểm đầu tiên tôi nhắm đến cũng không ngoài trạm phòng dịch thành phố. Tôi nghĩ, tìm một cơ may thứ hai ở chốn này thật mỏng manh, nhưng biết đi đâu khi trong đầu chưa định hướng. Người phụ trách mở toang các cửa phòng cho tôi tìm con chó lông trắng, nhưng trong hàng chục con chen chúc, lổn ngổn trong các gian phòng bẩn thỉu, hôi hám không có con nào có bộ lông đặc trưng ấy cả. Khi đứng quan sát, tôi trông thấy những ánh mắt van xin, cầu khẩn của nhiều con vật đáng thương, có chú còn chồm lên, hai chân trước cố bấu vào chấn song, miệng ú ớ liên hồi, van vỉ xin được giải cứu. Có chú chó đốm tướng mạo trông dữ dằn, ở nhà chắc cũng thường xuyên ra oai với hàng xóm, giờ nằm khoanh tròn, gương mặt ủ dột trông thật thảm thương. Con chó mực gừ gừ định tỏ thái độ phản đối, nhác thấy người giữ trạm giơ chiếc gậy lên, nó liền cụp đuôi lủi đến góc phòng. Tôi mường tượng khung cảnh nơi đây không khác gì trại tù binh và từng số phận đã có phần định đoạt. Những con vật ấy có thể đang u buồn trước cảnh mất tự do, nhưng cũng có thể chúng đã đoán biết cuộc sống sắp bị hóa kiếp. Thần thừ một lúc, tôi lặng lẽ đi ra, trong lòng lại càng thương cảm con Ki-na. Thế là xong, “họa vô đơn chí, phúc bất trùng lai”! Cái cơ may mỏng manh đã không tái diễn lần thứ hai ở chốn này.

Thành phố Sài Gòn từ lâu đã hình thành một khu chợ bán thịt chó nổi tiếng, nhắc đến là người ta nhớ ngay cái địa danh ngã ba Ông Tạ. Mỗi ngày thành phố tiêu thụ bao nhiêu ký thịt chó, ít có cơ quan chức năng nào lưu ý, nhưng nếu điều tra các lò phân phối, giết mổ ở khu vực này, người ta có thể phỏng đoán số lượng một cách tương đối. Tôi chợt nghĩ đến điều này, bởi thịt chó là một loại thực phẩm hiện đang được nhiều giới ưa chuộng, ngày càng lan rộng. Những lần ra Hà Nội, đến khu Nhật Tân, tôi trông thấy nhiều cô cậu Tây đầm ngồi ăn thịt chó thản nhiên và có vẻ khoái khẩu hơn là nhai món thịt băm nổi tiếng Mc.Donald,s. Ở thành phố Hồ Chí Minh, trong các quán thịt cầy nổi tiếng ở khu ngã tư Bảy Hiền, Thị Nghè, người ta thường thấy các chuyên gia kinh tế châu Á đến nhâm nhi, trong đó có khá đông gương mặt Hàn Quốc. Nhưng chó ít ai nuôi để bán, lượng thịt hầu như đều xuất phát từ nguồn... ăn trộm! Người ta đưa chó đến các lò giống như vận chuyển hàng lậu, bao bọc, che đậy kỹ lưỡng.

Khu ngã ba Ông Tạ có mấy phường giáp ranh, địa bàn nào cũng có nhiều lò giết mổ. Con chó thân thương của tôi đang nằm ở đâu trong một khu vực rất cụ thể nhưng cũng khá mênh mông ấy? Tìm một con người có địa chỉ trong vùng này đã khó, huống chi đi tìm một con chó chưa rõ ở ngóc ngách nào. Tôi đang phân vân chưa biết phải giải quyết vấn đề ra sao thì trời bỗng đổ mưa. Cơn mưa đến thật nhanh, quần áo tôi ướt sũng. Chiều mưa thường gieo trong lòng người thành phố một cảm giác buồn. Cái nắng chói chang vừa tan thì cái lạnh bắt đầu ngấm vào da thịt. Đã nhiều lần bị mắc mưa giữa phố nhưng chưa lần nào tôi thấy người bị “ngấm nước” như lần này. Một thoáng thôi, phố xá lại nhộn nhịp, người xe cuộn chảy náo nhiệt. Trước khung cảnh như vậy mà lòng tôi lại trống rỗng, mênh mông. Lắm lúc tôi cũng định quay về vì nghĩ cuộc tìm kiếm sẽ không có kết quả, nhưng chính những lúc ấy lương tâm lại thúc giục tôi không nên lùi bước. Đi tìm khơi khơi ở ngoài đường thì làm sao ra chuyện. Đắn đo một hồi, tôi quyết định tìm đến trụ sở công an phường.


Khu bán chó kiểng trên đường Lê Hồng Phong


Tiếp tôi là anh phó công an phường còn trẻ. Mặc dù thái độ anh ta cởi mở, hòa nhã nhưng tôi cứ ngập ngừng khi nghĩ đến một yêu cầu rất nhỏ nhoi, thậm chí gây phiền toái của mình:
- Tôi mất con chó... Có lẽ bọn ăn cắp đem bán cho mấy lò mổ ở khu vực này.
Anh phó công an phường ân cần:
- Con chó quí lắm sao mà anh phải lặn lội đi tìm, quần áo, tóc tai rũ rượi đến như vậy?
- Quí lắm! - tôi đáp - Con chó khôn ngoan, cả nhà tôi đều thương nó.
- Loại gì, béc-giê hay Nhật?
- Không, chó ta thôi. Nó có bộ lông trắng muốt, có móng đeo ở hai chân sau, sống trong nhà tôi đã mười năm rồi.
- Người ta bảo chó có móng đeo rất hiếm và tinh khôn phải không?

Tôi gật đầu:
- Đúng như vậy!

Anh phó công an phường nói tiếp:
- Người tuổi mười, chó tuổi một... Con chó của anh chắc cũng già lắm rồi?
- Nó còn lanh lẹ lắm! - tôi đáp.
- Khu vực này có ba phường giáp ranh, có gần một trăm lò mổ. Riêng địa bàn chúng tôi có cũng khoảng bốn mươi lò. Tìm con chó như anh miêu tả không phải dễ đâu nhé...
- Vâng, tôi biết.
- Cũng có thể đến giờ này người ta đã thịt nó rồi!

Lòng tôi quặn lại.

Anh phó công an phường dõi mắt ra cổng, vừa lúc ấy một người đeo cấp hàm thiếu úy bước vào. Hai người cùng đi vào nhà trong trao đổi gì đó một lúc, anh thiếu úy trở ra nói với tôi:
- Anh có nhận diện được những kẻ bắt trộm không?

Tôi lắc đầu:
- Sự việc xảy ra lúc tôi vắng nhà.
- Có ai nhìn thấy chúng đi bằng phương tiện gì không? Xe loại gì, màu sơn gì chẳng hạn?

Bất ngờ trước cuộc điều tra này nên tôi không trả lời được. Anh thiếu úy giải thích:
- Những tên trộm chuyên nghiệp đều có nơi tiêu thụ hàng. Tôi hỏi anh những chi tiết ấy để có thể xác định bọn trộm xuất phát từ khu vực nào, Sài Gòn, Chợ Lớn, Lăng Ông hay Tân Định... qua đó để phán đoán hàng đang nằm ở đâu. Tìm mông lung mất nhiều thời gian mà chưa chắc đã có kết quả.

Tôi hối tiếc vì đã không hỏi kỹ người hàng xóm những chi tiết ấy. Anh thiếu úy nói:
- Thôi, đành phải chịu! Anh đi với tôi xuống lò mổ mà tìm.
- Tốt quá, cảm ơn anh!

Tôi không ngờ công an lại giúp đỡ mình tận tình đến như vậy. Tôi liền nổ máy xe, đèo anh thiếu úy len vào các con hẻm.

Tân Bình là một trong những quận lớn và đông dân nhất thành phố Hồ Chí Minh, số người cư trú hợp pháp và không hợp pháp ước tính bốn trăm ngàn, nhiều hơn dân số nước Brunei. Một đặc trưng quan trọng của thành phố từng được ví là “Hòn ngọc Viễn Đông” này là có quá nhiều hẻm hóc. Có những con hẻm không có lối thoát hậu và có nhiều hẻm chỉ vừa đủ cho một người dắt chiếc xe đạp. Những con hẻm mà tôi đang đi tuy không nhỏ lắm nhưng cũng quanh co, đan nhau như chiếc rổ. Chạy được một lúc, anh cảnh sát ra hiệu cho tôi dừng lại, đẩy chiếc xe gởi ở nhà một người quen, rồi đưa tôi vào một con hẻm nhỏ hơn, bề ngang chỉ rộng khoảng hai mét.

Đến ngôi nhà xuềnh xoàng mang số 19, anh hỏi người đàn bà đang ngồi chải tóc cạnh cửa ra vào:
- Hồi sáng đến giờ bác có thu con chó nào màu trắng không?
Người đàn bà đứng lên, đôi mắt lấm lét:
- Không ạ! Lúc rày cũng ít hàng lắm.
- Thật không?
- Thật ạ!

Anh cảnh sát ra hiệu cho tôi đi tiếp đến nhà thứ hai. Ngôi nhà khá xập xệ, một người đàn ông đang loay hoay đóng lại chiếc ghế gãy.
- Chào bác! Hôm nay bác có thu được nhiều hàng không?

Nhìn khách một lúc, người chủ nhà ngập ngừng:
- Cũng có... hai con thôi.
- Loại gì, có con nào màu trắng không?

Chủ nhà đáp:
- Bà nhà tôi nhận hàng, tôi cũng chưa rõ loại gì. Bộ anh kia bị mất chó nhà à?
- Vâng, bác xem giúp hai con ấy màu gì.
- Các anh cứ vào xem, nếu có tôi cho nhận lại ngay.

Người chủ nhà đưa khách vào phía sau. Trong chiếc cũi rộng chừng hai mét vuông, một chục chú chó ngồi chen chúc, không có con nào màu trắng, chỉ có một con lông đốm có vẻ bệnh hoạn, ghẻ lở. Cả gian nhà tràn ngập một mùi tanh hôi.
- Cảm ơn bác nhé!

Anh cảnh sát đưa tôi đi tiếp đến địa chỉ thứ ba, một ngôi nhà khá khang trang có hai tầng lầu. Chủ nhà là người đàn bà mập khỏe, tỏ vẻ không hài lòng khi nghe khách hỏi đến chuyện làm ăn của mình. Bà ta nói nhát gừng:
- Lâu nay tôi chả mua bán gì cả..., với lại lúc rày hàng không còn dồi dào như xưa. Nhà mụ Bảy mới nhiều, các ông sang đấy mà hỏi.

Trong suy nghĩ của tôi, có thể đây là nơi sẽ tìm được con chó. Anh cảnh sát giữ thái độ mềm mỏng:
- Bác đưa chúng tôi vào xem một chút, nếu thật như lời bác thì có việc gì đâu.

Người đàn bà vẫn lải nhải:
- Xui rủi lắm đấy các anh ạ... Chỗ người ta làm ăn mà làm thế thì không được... Chó nào cũng bốn chân thôi...

Tôi càng sốt ruột và đinh ninh sẽ có con chó thân yêu của mình trong ngôi nhà này. Anh cảnh sát vẫn kiên trì:
- Bác có gì để chứng minh số hàng trong nhà bác không phải là của gian?

Có lẽ chột dạ, người đàn bà im lặng một lúc rồi nói với vẻ miễn cưỡng:
- Được, cũng chiều các anh một lần!

Vừa bước vào nhà sau, tôi đã nghe mùi hôi bốc lên nồng nặc. Cạnh phòng tắm có cánh cửa gỗ được ngụy trang bằng một tấm nylon cũ nát, khi cánh cửa được kéo ra, tôi không khỏi kinh ngạc: khoảng năm mươi con chó lổn ngổn trong cái chuồng ngập sình đất, đặc các thứ xú uế, hầu như con nào cũng lem luốc, dơ dáy, không nhận ra hình dạng. Có cả một chú chó béc-giê và vài con chó Bắc Kinh. Cả bầy trơ những đôi mắt ngơ ngác, buồn bã. Tôi cố dõi mắt nhận dạng từng con, nhưng niềm hy vọng lại vụt tắt.

TRẦN TỬ VĂN(theo CAO)