(Tiếp theo)
Tôi tìm được lò mổ thứ hai rồi lại thêm nhiều lò mổ nữa. Ở chỗ này người ta cho tôi vào nhà với thái độ bình thường, ở chỗ kia người ta tiếp tôi một cách miễn cưỡng. Có chỗ họ không cho vào, đối đáp bằng những lời lẽ cộc lốc, nhưng cũng có nơi tử tế, người chủ mời ngồi lại tâm sự thêm vài điều. Hơn một giờ đồng hồ, tôi sục sạo rất nhiều lò mổ trong khu vực, mặc cho người ta đối xử như thế nào, tôi vẫn cởi mở, từ tốn, cốt mong đạt cho được mục đích.

Nhưng càng đi, nỗi thất vọng lại càng tăng lên. Ánh nắng nhạt dần, giờ tan tầm phố xá tràn ngập người, xe. Giữa khung cảnh ồn ào, náo nhiệt như vậy mà lòng tôi lại trống trải, mênh mông. Như người đi rừng bị mất phương hướng, lẩn quẩn mãi không tìm được lối ra, tôi bắt đầu lo lắng, phân vân.
- Hay là ông đến khu vực nhà thờ Ba Chuông ở quận Phú Nhuận, bên ấy cũng có nhiều lò mổ lắm! - bác đạp xích lô mách như vậy khi tôi hỏi thăm.
Tôi lại phóng xe đến đường Lê Văn Sỹ, qua cổng xe lửa rồi rẽ vào con hẻm cặp theo đường rày. Nghề nào cũng có danh, có phận, ngay cả nghề mổ heo, mổ chó cũng có những nhân vật nổi tiếng. Hỏi thăm vài người trong vùng, ai cũng chỉ tôi nên đến nhà Tư Hoàng Gia.
Mặc dù nằm trong con hẻm không lớn lắm nhưng ngôi nhà của Tư Hoàng Gia cao đến ba tầng lầu, trông bề thế, đĩnh đạc. Có lẽ mới xây nên ngôi nhà còn thơm mùi sơn, gạch lát bóng lộn. Khi đứng trước ngôi nhà này, tôi thật sự e dè, cảm thấy cái yêu cầu của mình quá nhỏ bé, không ăn thua gì so với cái cơ ngơi đồ sộ kia. Tư Hoàng Gia là ai? Có phải biệt danh ấy biểu trưng cho tiền tài và thế lực? Chẳng lẽ lại thối lui, biết đâu con vật thân yêu của mình đang nằm ở xó xỉnh nào đó trong căn hộ sang trọng này? Mấy mươi lò mổ đã đi qua, lẽ nào lại chùn chân trước khung cảnh nặng mùi tiền bạc như vậy? Thấy tôi đứng thập thò, từ trong nhà có tiếng chó béc-giê sủa vang ra. Một thằng bé tuổi độ 12, đứng phía sau cổng rào nhìn tôi dò xét.
- Có anh Tư ở nhà không cháu? - tôi lên tiếng.
Thằng bé hỏi lại:
- Chú là ai?
- Chú muốn hỏi thăm chút chuyện, nói anh Tư cho gặp một chút.
Thằng bé ngập ngừng.
Tôi nói tiếp:
- Cháu là gì của anh Tư?
Thằng bé không đáp.
Ngay lúc ấy, từ trên cái cầu thang hình cung xuất hiện một người trung niên mặc bộ pi-ja-ma kẻ sọc xanh. Ông ta cao to, có bộ ria mép, dáng điệu phong lưu, hỏi với giọng sang sảng:
- Ai đấy?
Thằng bé quay vào đáp:
- Người lạ bố ơi!
Người trung niên bước ra cổng rào, nhìn tôi một lúc rồi mở khóa.
- Xin lỗi, anh là Tư Hoàng Gia? - tôi hỏi.
Người trung niên lắc đầu:
- Tư Hoàng thôi, chữ “Gia” là do thiên hạ ghép thêm vào. Mà anh cần gì?
Thấy anh ta có vẻ dễ chịu, tôi liền nói mục đích của mình, nhưng với nhân vật này tôi không dùng chữ “chuộc” mà nhấn mạnh “nếu có cho xin lại”.
Gã trung niên chợt nói:
- Xin không được đâu, bố ạ! Tất cả đều phải mua, tất cả đều phải tốn tiền hết. Nếu có con chó ấy thì bố cũng phải móc tiền ra để mà đưa nó về.
Tôi cười gượng và thấy người chủ nhà này có vẻ thẳng tính, sòng phẳng. Thà như thế còn dễ tiếp xúc hơn là hắn không nói một lời nào cả.
- Bây giờ mà đưa ông đi tìm con chó thì cũng cực thân, nhưng ông lỡ đến đây chẳng lẽ lại để ông tấm tức quay về. Ông quay đầu xe lại đi, lò ở đằng kia chớ không phải ở đây đâu.
Sợ hắn đổi ý kiến, tôi làm nhanh như máy.
- Giờ này chả có thằng cu nào ở nhà để sai bảo, thôi tôi đành phải đưa ông đi vậy!
Tôi không ngờ Tư Hoàng Gia lại là người tử tế, nên không hiểu tiếng tăm của anh ta xuất phát từ sự giàu có hay do một vấn đề nào khác. Sau khi bảo thằng con khóa cổng rào, anh ta leo lên xe ngồi phía sau tôi, ra hiệu chạy tới. Qua hai khúc hẻm dài hơn ba trăm mét, anh ta bảo tôi dừng xe trước một ngôi nhà thấp lè tè, tường loang lổ. Giữ nhà là một thanh niên khỏe mạnh, nhác thấy Tư Hoàng Gia, anh ta liền tỏ thái độ cung kính.
Tư Hoàng Gia bảo tôi dựng xe vào nhà, rồi hỏi gã thanh niên:
- Có ai mang hàng đến không?
- Có ạ! - gã thanh niên đáp - Ở Định Quán. Họ mang đến hồi bốn giờ.
Gã thanh niên đến góc nhà lôi ra một chiếc cũi, trong đó có khoảng một chục con chó đều màu vàng đất.
- Tốt! - Tư Hoàng Gia nói - Mày đợi đấy, một chút nữa hàng Long An sẽ đến, họ đang trên đường đi.
Rồi Tư Hoàng Gia bước đến kéo cánh cửa gỗ căn phòng trước mặt, một mùi hôi ẩm thoát ra và tiếng lao nhao của bầy chó.
- Này, nhìn cho kỹ đi, xem có con nào của ông không? - Tư Hoàng Gia nói với tôi.
Tôi bất ngờ đến kinh ngạc, vì chưa thấy nơi nào thu gom một lượng chó nhiều đến như vậy. Căn phòng được chia làm nhiều ngăn, có cả các loại chó nước ngoài, chó kiểng đắt tiền, ước tính không dưới hai trăm con. Chủ nhà phân hàng theo từng chủng loại, phân biệt chó thành thị và chó thôn quê, nhiều nhất vẫn là nhóm hàng mang lên từng đàn từ các tỉnh. Nhóm thành thị có khoảng ba chục con nhưng không có con nào có bộ lông trắng. Tôi ỉu xìu nhìn Tư Hoàng Gia. Thấy vậy, anh ta nhún vai:
- Phí công phải không?
Tôi không đáp, nhìn mấy con chó béc-giê đang nằm thườn thượt trong chuồng.
- Tôi quên, con chó của ông mất từ lúc nào?
- Hồi sáng.
Tư Hoàng Gia lắc đầu:
- Nếu thế thì càng không có. Suốt ngày nay tôi không thu món hàng nào ở thành phố cả, vả lại ở đây tôi không mổ thịt, chỉ phân phối thôi.
Tôi đành phải cám ơn Tư Hoàng Gia đã tận tình giúp đỡ. Trên đường trở về nhà, anh ta nói:
- Theo thông lệ, nếu ai nhận diện được con chó của mình, chúng tôi sẽ cho chuộc lại thôi. Chó ta thường là tính theo trọng lượng, nhưng cũng ít ai đi tìm. Họ tiếc nuối, tích cực lùng sục khi mất chó Nhật, chó Bắc Kinh, chó Đức... những loại đắt tiền, xinh đẹp. Có người bỏ ra hai, ba lượng vàng để chuộc lại con chó ngơ ngơ ngáo ngáo như đẻ ra từ... sao Hỏa. Ông là trường hợp hiếm hoi cất công đi tìm con chó ta già nua, thịt thà chẳng còn ngon, mua bán cũng chẳng đáng giá bao nhiêu. Nếu ông tiếp tục đi tìm thì nên đến nhà bà Cả Hổ, một lò mổ có lâu đời ở vùng này. Nếu đến đấy vẫn không có thì nên quay về, bởi vùng này ít lò hơn khu ngã ba Ông Tạ, chỉ có quen biết người ta mới mang hàng đến giao.
Theo chỉ dẫn của Tư Hoàng Gia, tôi chạy ngược trở ra đường rầy tìm con hẻm có biệt danh Lá Mơ. Chuông nhà thờ lan trong không gian. Đã 5 giờ chiều, mặt trời chuẩn bị đi ngủ, vài làn gió nhẹ thoảng qua. Tôi không hiểu công việc của mình đến khi nào mới đạt được kết quả, khi mà thời gian cứ dần khép lại.
Nhà bà Cả Hổ cũng cao to, có tường rào bao bọc. Khi tôi đến nơi thì bà ta chuẩn bị đi lễ nhà thờ, nên thái độ vội vội vàng vàng. Vừa nghe yêu cầu của tôi, bà bĩu môi:
- Gớm, tưởng việc gì hệ trọng! Tôi đâu có thời gian để tiếp anh.
Tôi nài nỉ, bà ta gắt gỏng:
- Anh cứ nói mãi, tôi phải đi ngay bây giờ. Nếu thế, hai giờ đồng hồ nữa anh quay lại, tôi sẵn sàng hầu anh.
Tôi nói thêm mấy lời, bà ta định bấm ổ khóa cổng rào. Thời may, lúc ấy có một cô gái chạy xe về, hỏi bà Cả:
- Mẹ có cần con đưa đi không?
- Khỏi. - Bà Cả đưa chìa khóa lại cho cô gái: - Mẹ đi xích lô, còn đến nhà bà bạn dự tiệc.
Rồi bà quay sang phía tôi, giọng khó chịu:
- Còn cái anh dai như đỉa này nữa, coi anh ta muốn gì. Cẩn thận đấy con nhé, lúc này đạo tặc nhiều lắm đấy!
Bà Cả quày quả bước nhanh. Cô gái nhìn tôi, tôi lại nói mục đích của mình. Sau khi mở cửa đẩy xe vào nhà, cô gái quan sát tôi một lúc, rồi nói:
- Hồi sáng nhà có thu hai con chó trắng, không biết có con nào của anh không?
Tôi mừng thầm, nói ngay:
- Phiền cô cho tôi xem một chút!
Cô gái nói dè chừng:
- Nhưng mà... cũng chưa chắc đã có con chó của anh.
Tôi hiểu cô gái sợ người lạ mặt vào nhà, nhất là đàn ông trai tráng như tôi. Thái độ của cô làm tôi thêm sốt ruột nên đành phải ra sức nài nỉ. Suy tính một hồi lâu, cô gái bước vào mở đèn nhà sau, trở ra nói:
- Anh để xe tôi trông cho, vào mà xem đi!
Tôi vui mừng cảm ơn cô gái. Nhà sau khá rộng, trong chiếc chuồng to tướng chỉ có ba chú chó đang nằm tiu nghỉu, một con lông vàng, hai con lông trắng. Thấy tôi, cả ba con đều chồm dậy, ngoắc đuôi tỏ ý thân thiện. Tôi chú ý một con chó trắng có sóng bờm trên lưng, dáng tựa con Ki-na. Tôi gọi tên, con chó cứ đứng ngơ ngơ. Đến gần hơn, nhìn kỹ gương mặt nó, tôi phát hiện nó chỉ mở một mắt, con mắt còn lại nhắm kín, trên mí còn dính máu đặc, dường như nó bị chủ nhà đánh đập hoặc bị bọn trộm gian ác trấn áp khi nó chống cự. Trên mũi con Ki-na có một cái bớt đen, trông giống như ăn vụng bị dính lọ nồi, con chó này không có đặc điểm ấy. Tôi lại nhìn kỹ hai gót chân sau của nó, cũng không có cái móng đeo nào. Tội nghiệp, con chó cứ đứng nhìn tôi với con mắt chột, tôi không biết phải làm cách gì để chia sẻ nỗi đau đớn của nó. Khi tôi quay lưng thì cả ba con đều kêu lên những tiếng ú ớ khổ đau, nghe đến buốt lòng.
Thấy tôi trở ra, cô gái lên tiếng:
- Xem gì mà lâu thế?
Tôi cười:
- Xin lỗi cô, có một con khá giống.
- Tôi đã bảo mà... tìm con chó đâu phải dễ.
- Đúng là khó khăn quá!
Cô gái bước vào nhà:
- Xong việc rồi nhé, giao xe lại cho anh đấy!
- Cô tốt bụng quá!
Cô gái đóng cửa rào lại, nói ra:
- Anh đi nhé! Chúc gặp nhiều may mắn.
Một lời chúc rất tốt lành, nhưng tôi cứ trông đợi nó hiển hiện. Bà Cả Hổ có vẻ dữ tợn nhưng được cô con gái xinh đẹp, tử tế. Như thế ai bảo “hổ mẫu sinh hổ tử”?
Không gian chuyển sang màu xám, đây đó đã sáng ánh đèn. Lòng tôi xốn xang, ray rứt. Tôi nghĩ có lẽ định mệnh đã an bài, con Ki-na phải hóa kiếp. Sống gần gũi với người nên nó rất tinh khôn, tâm hồn cũng chứa chan tình cảm. Lúc này, bỗng dưng những hình ảnh về con chó thân yêu cứ chảy cuồn cuộn trong đầu tôi. Tôi nhớ ngày má tôi mất, mẹ của Ki-na, một con chó cũng có bộ lông trắng, cứ buồn bã bỏ ăn đến nằm dưới chiếc quan tài. Má tôi là người gần gũi, chăm lo cho nó miếng ăn hàng ngày, dù hết sức đạm bạc. Người chủ mất, nó tỏ lòng tiếc thương, sầu khổ như một đứa con. Sau đám tang, cả tháng nó cứ quanh quẩn trong nhà, không chạy rong ra phố hoặc đùa giỡn với lũ trẻ. Diện mạo và tính tình giống mẹ, con Ki-na còn tỏ ra khôn ngoan hơn. Nó rất dữ tợn với người lạ mặt, ăn hiếp những con chó sống cùng xóm, nhưng chưa bao giờ tấn công người bằng nanh vuốt. Dường như nó cũng hiểu gây thương tích là một cái tội, thậm chí nguy hiểm cho tính mạng con người. Thấy nó ở một mình cũng buồn, hôm đó tôi xin về thêm hai con chó nhỏ. Nó giận tôi, suốt tuần lễ không thèm ăn. Mọi hôm, vừa nghe tiếng xe của tôi ở đầu ngõ, nó đã chạy ra đón mừng, mấy ngày ấy dù tôi đã vào đến ngưỡng cửa, nó cũng không thèm đứng dậy. Gọi nó, ngoắc đuôi vài cái như chào xã giao xong nó lại quay đầu sang hướng khác, không động đậy. Vỗ về nó bao nhiêu thứ thịt cá, nó vẫn không ăn, thân hình ngày càng xác xơ, tiều tụy. Nghĩ mãi, không biết làm cách nào, tôi đành phải mang hai chú chó nhỏ đem trả. Từ khi hai chú “nhóc” lạ hoắc được đưa ra khỏi nhà, con Ki-na mới sinh hoạt bình thường trở lại. Ai bảo loài vật không có tình cảm, nó có thể thua con người cách tính toán, nhưng bụng dạ thì vẫn biết mọi chuyện “hỉ, nộ, ái, ố”. Hiếm có con chó nào phản chủ, chỉ có con người còn yêu thương nó hay không. Lòng trung thành của con vật thôi thúc tôi phải làm hết trách nhiệm, phải nhớ đến ý thức và công sức nó đã bỏ ra suốt mười năm đối với gia đình của mình. Bất giác tôi thầm nhủ: “Lẽ nào phải trở về với... bài thánh ca buồn ?”.
(Còn tiếp)